Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền; trường sinh hoc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền; trường sinh hoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 1, 2014

Vài nét cơ bản về thiền


Thiển (mediatation) là một phượng cách rèn luyện tâm thần nhằm giúp con người thoát khỏi tình trạng ‘suy tư” để đạt tới một trạng thái thư dãn hoàn toàn.
Có nhiểu cách thiền khác nhau (*), nhưng trọng tâm vẫn là tập trung tư tưởng và giúp cho trí óc đươc an bình. Khi tập thiền lâu dài, bạn sẽ nhận thấy là bạn có thể  thiền bất cứ nơi nào  và vào bất cứ lúc nào, có thể giữ được nội tâm  yên tĩnh dù có bất cứ  điều gì xẩy ra xung quanh bạn.
Nhưng muốn thiền thì trước tiên  bạn phải làm sao thuần hoá đươc trí óc của bạn
1-Thu xếp thời gian                                                                                           
Bạn hãy dành đủ thời gian để thiền mỗi ngày vi tập đều mới có kết quả tốt
v     có người cho là thiền chừng năm phút  mỗi ngày là đủ  nhưng cũng có người thích thiền lâu hơn
v     có người muốn thiền vào buổi sáng, có người  muốn giải tỏa trí óc  vào cuối ngày, nhưng cũng có người lại muốn nương náu trong thiển vào  iữa ngày bận rộn.  Tuy vậy thời điểm thiền dễ nhất là vào  buổi sáng khi cơ thề chưa bị mệt mỏi vì  các sự cố trong ngày và trí óc hãy còn  thảnh  thơi
v     không nên thiền ngay sau bữa ăn hoặc khi đang cảm thấy đói bụng vì hệ   tiêu hóa của cơ thể  rất có thể làm bạn mất hứng thú.


2- Tìm kiếm hoặc tạo một môi trường yên tĩnh thư dãn                                     
Điều đặc biệt quan trọng là khi bắt đầu thiền bạn phải tránh tất cả những gì gây trở ngại  cho sự chú tâm (attention). Bạn hãy tắt máy truyền hình, ngắt điện thoại, tháo các thiết bị gây ồn ào. Nếu vặn nhạc, bạn phải chọn loại nhạc êm dịu  lập đi lập lại để bạn không mất tập trung. Thiền ngoài trời cũng đươc nhưng bạn phải chọn nơi ở xa đường phố ổn ào nhộn phịp hoặc những ngưồn gây tiếng động lớn.
3- Ngổi  thiền trên mặt đất bẳng phẳng 

Bạn có thể ngồi trên gối nệm nếu ngổi trên mặt  đất bạn cảm thấy không thoải mái.




Bạn không phải bắt chéo chân như ngồi tọa sen hoặc có một vị thế ngồi bất bình thường nào. Điều quan trọng là bạn phải giữ lưng cho thẳng để giúp cho sự hít thở sẽ chỉ dẫn sau
v     Bạn cũng có thể ngổi trên ghế để thiền., nhưng phải nhớ giữ lưng cho thẳng.(dù là tựa lưng vào ghế hay không). Hai bàn chân của bạn phải bám chặt với mặt đất
v     Dù trong khi thư dãn bạn đang ở bất cứ vị thế nào, lưng của bạn cũng vẫn có thể giữ cho thẳng ngay cả khi bạn ở vị thế nằm, nhưng bạn đừng quá thư dãn đến nỗi ngủ thiếp đi.

4- Hé mở mắt nhưng không chú mục vào bất cứ cái gì  
                               
Nếu điều này làm bạn lãng trí hay khó khăn đối với bạn thì bạn có thể nhắm mắt lại hoăc tìm một cái gì không thay đổi --như một ngọn nến nhỏ chẳng hạn-- để tập trung chú ý vào

5- Thở cho sâu và chậm, bằng bụng thay vỉ bằng ngực.

Bạn phải cảm thấy bụng đưa lên xẹp xuống (**) trong khi lồng ngực tương đối bất động. Hơi thở giúp bạn thư dãn nếu khi thở vào bạn đếm tới ba và thở ra đếm tới sáu, và lập đi lập lại như vậy trong vòng từ 15 đến 20 phút. Thở như vậy,     không khí dùng rồi sẽ  bị thải ra khỏi cơ thể, máu nhận đươc nhiều oxigen, nhịp tim sẽ chậm lại và áp huyết sẽ giảm  Có nhiều bệnh nhân  áp huyết giảm tới 50 điểm cho nên có thể  giảm hoặc bỏ hẳn thuốc cao huyết áp. Bạn cẩn tập thở đểu đặn mỗi ngày

6- Thư dãn từng cơ bắp
 
Bạn không nên vội, vì  muốn hoàn toàn thư dãn phải cẩn thời  gian. Bạn  cứ tâp thư dãn dẩn dần, bắt đẩu tù đẩu ngón chân, để rồi cuối cùng  lên tới đầu và mọi  căng thẳng tiêu tan hết

7- Tập trung vào sư chú ý

Chắc bạn đã để ý thấy là đẩu óc bạn  hay suy nghĩ lan man, nhảy từ tư tưởng nọ sang tư tưởng kia ,  có những nhận xét vể những điều khác nữa. Bạn hãy hướng nhẹ nhàng sự chú ý của bạn vào một điểm đơn giản  cho tới khi nó ở lại  tại đó một cách tự nhiên. Mục đích là làm cho đầu óc dần dần hết suy nghĩ lan man và tìm một “cái neo” để ổn định trí óc.
v     Bạn hãy để sự chú ý của bạn buông theo nhịp thở.Bạn hãy lắng nghe, theo dõi hơi thở nhưng đừng suy xét gì hết
v     Để khắc phục những tiếng “thì thầm” trong óc  ban hãy đọc một câu “chú” với nhip đều đặn như chữ “nam mô” chẳng hạn. Bạn có thể đọc thành tiếng hoặc nhẩm trong đầu.  Những người mới ngối thiền có thể thấy đếm nhip thở của mình dễ dàng hơn tức là  đếm nhịp thở từ 1 đến 10 rồi bắt đâu lại từ 1 và cứ như thế mãi)
v     Để chặn không cho những hình ảnh xen vào tư tưởng của bạn, bạn hãy  hình dung ra một nơi nào đem lại sự yên tĩnh cho bạn. Đây có thể là một nơi chốn có thực hoặc tưởng tượng. Thí dụ bạn có thể tưởng tượng mình  đang đứng trên một  thang lầu dẫn tới một nơi hết sức bình an, rồi bạn hãy  đếm từng  bước thang cho tới khi bạn cảm thấy bình tâm và thư dãn




v     Đối với một số người , sự tập trung  chú ý vào một điểm hay một vật lại có tác dụng ngược với điểu mà chúng ta chờ đợi ở thiển bởi vì nó đưa chúng ta trở vể  cuộc sống với những nỗ lực, chú ý, tập trung và căng thẳng. Trong trường hợp này, nhiểu chuyên gia  cho rẳng đừng nên chú trong vào sư tập trung chú ý vào một điểm hay một vật mà lại nên tìm cách đạt tới “trạng thái trống không” ( state of zero), tức là không còn chú ý và suy nghĩ về bất cứ điều gì hết ..




8-  Giữ  cho trí óc yên lặng

Một khi bạn đã rèn luyện được trí óc để chỉ chú tâm vào một điều, thì  giai đoan kế tiếp  là làm sao cho trí óc không còn tập trung vào bất cứ cái gì, chủ yếu là   “giải tỏa sạch sẽ trí óc” . Đây là một thử thách cam go nhưng cũng là đỉnh  cao của thiền. Sau khi đã chú tâm vào một điểm duy nhất như nói ở giai đoan trên, bạn có thể  hoặc xóa bỏ điểm ấy  hoặc nhìn điểm ấy một cách khách quan và  làm cho nó chợt hiện chợt biến mà không quan tâm nó là xấu hay tốt. Bạn hãy làm như vậy cho bất cứ ý tường gì  đến với bạn cho tới khi  đạt đươc sự “im lặng” trường tồn.
Ghi chú
(*) Cách cách thiền khác nhau
1- Tâp trung vào hơi thở của chính  mình. Đây là cách thiền đơn giản nhất và có thể là thông thường nhất
2- Niệm chú  Lập đi lập lại một từ nào đó. Tác giả cuốn The Relaxation Response để nghị niệm con số “một” (one) mỗi lần thở ra
3- Cầu nguyện  Đây là cách giao cảm với đấng Tối cao tạo nên vạn vật để xưng tụng công đức, dâng lời khấu tạ, cẩu xin che chở…
4- Tập trung sự chú ý vào một giác quan Chẳng hạn như chỉ chú ý vào những gì nghe thấy hoặc vào những gì cảm thấy
5- Hình dung  sự vật trong trí óc (visualization). Chặng hạn như tưởng tượng bản thân mình thoát  ra khỏi cơ thể vật chất
6-Thiền trong khi đi  Chú tâm vào tiến trình bước đi từng bước
(**)  Cơ bản vể sự thở bằng bụng
1- Giữ tư thế thích hợp
v     nẳm ngửa, đầu gối gập lại
v     ngổi thẳng lưng trên ghế , đủ xa về phiá trước để cho bộ phận sinh dục ở ngoài ghế
v     đứng ở thế tự nhiên, chân hướng về phiá trước và ở ngay phiá dưới vai, tay buông thõng hai bên người
2- thư dãn cơ thể
3- thư dãn từ từ
4- chú tâm vào phẩn bụng dưới, gạt bỏ các suy nghĩ ra khỏi đầu
5- đừng tập trung sự chú ý vào bất cứ điều gì
6- đặt  gan một  bàn tay lên bụng khoảng một inch dưới rốn, và gan bàn tay kia ở vùng xương ức
7- thở ra đằng mồm và  thóp nhe nhàng bung vào
8- hít vào đằng mũi và phình bụng ra, chú trọng vào phía bụng dưới
9- giữ cho lổng ngực tương đối bất động
10-cứ thế tiếp tục tới bao nhiêu lần cũng đươc. Lúc bắt đầu nên tập thở chín lần
                                                      ( How to meditate-Wikihow)

Đăng bởi trung05:04

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

Trường Sinh học - Phương pháp chữa bệnh không mất tiền




          Một trong những phương pháp chữa bệnh hiệu quả không tốn tiền mua thuốc là Trường Sinh học. Đây là “bài thuốc” chữa bệnh bằng ứng dụng Trường Năng lượng Sinh học của con người, được thu nạp từ vũ trụ, thông qua điều khiển của các Luân xa (tức là điều khiển các huyệt đạo quan trọng trong cơ thể) làm cân bằng thể chất tâm lý, giúp cơ thể có nhiều năng lượng, khỏe lên, lấn át bệnh tật.
 
          Tập đơn giản, hiệu quả cao.
          Trước khi tôi đi chữa bệnh bằng phương pháp Trường Sinh học, ông Trần Quý, chủ nhà hàng trung tâm tiệc cưới Đông Xuyên, Phường Rạch Dừa, Thành phố Vũng Tàu căn dặn: “Chú đi học chữa bệnh phải có niềm tin. Đây là bài thuốc chữa bệnh bằng thu nạp năng lượng từ vũ trụ. Thông qua tác động và suy nghĩ để điều khiển các huyệt đạo làm cho con người cân bằng sinh thái, thông kinh, hoạt huyết, năng lực dồi dào, đẩy lùi bệnh tật”. Tôi vui vẻ đi học với ý nghĩ: “Có bệnh thì vái tứ phương”.
          Tôi đến Tịnh xá Pháp Hải ở Phường 6, Thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) để học. Buổi trưa, ngôi chùa yên tịnh vắng vẻ. Cái nắng như thiêu như đốt cũng không làm chùn bước những ông già bà cả, thanh niên, phụ nữ về đây. Ông Nguyễn Văn Nhân, cán bộ hưu trí ghi chép tên những người vào đăng ký học cho biết: “Đây là khóa học thứ 112 cho người bệnh đến học 6 ngày bằng phương pháp thu nạp năng lượng mà không phải đóng bất cứ chi phí nào”.
 
                        Hướng dẫn học viên vị trí của Luân xa.- Ảnh: Nhật Minh.

          Thời gian học thường bắt đầu vào 12 giờ trưa thứ 2 hàng tuần và kết thúc vào trưa thứ 7 tuần đó. Ông Bảy là người hướng dẫn cho người bệnh về lý thuyết và thực hành. Theo ông Bảy, Trường Sinh học là phương pháp tự trị bệnh bằng thu nạp năng lượng từ vũ trụ vào cơ thể con người thông qua huyệt đạo. Sau khi khai mở Luân xa, người bệnh bắt đầu tập luyện và có năng lượng rồi thì dùng ý chí (suy nghĩ) của mình để điều khiển vào huyệt đạo (Luân xa). Các huyệt đạo sẽ bắt được tín hiệu theo hệ thống năng lượng sinh học để điều khiển khí huyết, cân bằng tâm sinh lý, thông kinh, tinh thần an lạc. Khi chữa, người bệnh ngồi ở tư thế thiền, dùng trí của mình nghĩ về Luân xa (mỗi Luân xa quy định cho một loại bệnh). Sau 6 buổi học, người bệnh về nhà tự chữa, mỗi lần chữa bệnh ít nhất ngồi 30 phút. Các bệnh tật sẽ giảm dần và hết do năng lượng vũ trụ được thu nạp đầy đủ và điều tiết cân bằng cơ thể.
          Theo hướng dẫn của ông Bảy, mỗi người có 7 Luân xa quan trọng. Luân xa số 7 ở giữa đỉnh đầu trị bệnh thần kinh, não; Luân xa số 6 ở giữa trán trị bệnh thần kinh ngoại biên, thần kinh tọa, đau nhức cơ thể, viêm đa khớp; Luân xa số 5 ở dưới đốt xương sống gồ lên đầu tiên sau gáy, trị bệnh về da, dị ứng, các bệnh về khí như phổi, hô hấp; Luân xa số 4 ở điểm giao nhau của đường thẳng dọc đốt xương sống và đường thẳng kẻ từ đầu ngực của người đàn ông vòng qua, trị bệnh tim mạch, huyết áp cao, mỡ máu; Luân xa số 3 ở đốt sống sau giữa thắt lưng, trị bệnh dạ dày, viêm gan, ruột, lá lách, tụy; Luân xa số 2 ở xương cụt chữa bệnh hiếm muộn, sinh lý yếu, bệnh phụ nữ, tuyến tiền liệt; Luân xa số 1 ở giữa hậu môn và cơ quan sinh dục ngoài (không có chức năng trị bệnh). Người bệnh đau ở đâu thì nghĩ về Luân xa ấy.
          Bắt đầu vào trị bệnh, người bệnh chọn vị trí thoải mái mát mẻ (tránh tiếng động ồn ào, ruồi muỗi hoặc tác động ngoại cảnh). Ngồi xếp bằng tròn, một chân để trên, một chân để dưới (kiểu ngồi thiền). Hai tay mở để lên đầu gối tự nhiên, lòng bàn tay ngửa lên trên, mắt nhìn thẳng, hít vào từ từ bằng mũi, thở ra từ từ bằng miệng, làm như thế 3 lần, sau đó nhắm mắt lại và ngồi tịnh tâm suy nghĩ về Luân xa mà mình cần chữa cho bệnh nào đó, không được uống rượu, bia trước khi chữa bệnh 4 giờ.
 
          Nhiều người tự chữa khỏi bệnh bằng Trường Sinh học.
 
           Học viên đang tập luyện tại Tịnh xá Pháp Hải  - Ảnh: Nhật Minh.

          Có nhiều người đã tự chữa khỏi bệnh bằng phương pháp Trường Sinh học. Trong những người ấy, có ông Trần Quý, chủ nhà hàng trung tâm tiệc cưới Đông Xuyên, thành phố Vũng Tàu. Nói về tính ưu việt của phương pháp tự chữa bệnh này, ông Quý cho biết: “Thoạt đầu khôn tin, bởi tôi đã mất 40 triệu đồng đi chữa bệnh mà không lành. Trước tôi bị bệnh huyết áp cao, viêm gan B, tinh thần uể oải, trí nhớ giảm sút nghiêm trọng… Sau khi đi học và về nhà tự chữa bệnh qua 7 tháng, đi xét nghiệm lại, men gan ở mức bình thường, huyết áp ở giới hạn cho phép, gam cỏn nhiễm mỡ nhưng ở mức độ nhẹ.
          Theo bà Nguyễn Thị Lài, quê ở Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh hiện đang sinh sống ở Phường 10, thành phố Vũng Tàu thì trước đây bà cũng đủ thứ bệnh, như cao huyết áp, viêm xoang, đau nửa đầu, sỏi thận,… Qua hơn một năm tự chữa bệnh bằng phương pháp Trường Sinh học, bệnh của bà cơ bản đã hoàn toàn chấm dứt, ăn ngủ tốt, da dẻ hồng hào. Bà Lài vui vẻ: “Khi chữa bệnh sang tháng thứ 2, tôi đi tiểu ra sỏi, huyết áp tốt. Có điều phương pháp này phải kiên trì, chữa thường xuyên mới có hiệu quả. Không tốn tiền bạc, mỗi ngày chỉ ngồi vài lần, ít nhất cũng phải được trên 30 phút mỗi lần, hoặc lâu hơn càng tốt,.. Ai cũng có thể đến lớp học rồi về tự chữa cho mình. Bài thuốc này không chỉ chữa khỏi bệnh, mà còn giúp cho người bệnh an về tâm, thịnh về sức”.
          Một nhân chứng khác cũng thành công về chữa bệnh bằng phương pháp Trường Sinh học, đó là chị Nguyễn Thị Minh Huệ, hiện là quân nhân chuyên nghiệp, thuộc Phòng Hậu cần, Lữ đoàn 171 Vùng B Hải quân. Chị Huệ mắc bệnh hiểm nghèo rỗng tủy, phát hiện cách đây gần 2 năm, đã chữa trị tại các bệnh viện lớn như: 108 Hà Nội, 175 TP Hồ Chí Minh. Theo bác sỹ, bệnh của chị Huệ thuộc loại hiểm nghèo, không có khả năng tái tạo tủy. Chị Huệ đi học Trường Sinh học, lúc đầu cũng tự an ủi mình, nhưng sau 3 tháng tự chữa, chị đã mang thai, khỏe lên rất nhiều.
 
Tựa đề bài báo trên Tập san "Người cao tuổi", số 162.

          Sáu ngày học chữa bệnh bằng phương pháp Trường Sinh học đã qua, tôi cũng như bao người bệnh khác trở về trong niềm vui và bắt đầu tự chữa bệnh cho mình. Qua hơn 3 tuần tự chữa, tôi thấy bệnh cũng có phần thuyên giảm, ăn ngon hơn, ngủ sâu hơn, tinh thần ổn định, da hồng hào. Có một điều không thể phủ nhận là tinh thần sảng khoái hơn và luôn nhân ái hướng thiện.
Tác giả bài viết: TRẦN MẠNH TUẤN
Nguồn tin: Tập san NGƯỜI CAO TUÔI, số 162, tháng 8 năm 2010.

Đăng bởi trung15:56

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Thiền Định

Trích từ:

Hai bài Thuyết Trình về Thiền được trình bày tại
Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới
Thể Nhập Thiền Định (Samatha)
và
Thiền Tuệ (Vipassanā)



Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayadaw
và
Tiến Sĩ Mehm Tin Mon



Thọ Trì Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati)

Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati) là một trong những đề mục thiền hiệu quả nhất để tu tập định một cách nhanh chóng. Nó nhận được nhiều sự tán dương của Đức Phật và được sử dụng ở nhiều trung tâm thiền như là đề mục thiền đặc biệt (pārihāriya kammaṭṭhāna) để tu tập định. Nếu thực hành một cách đúng đắn theo chỉ dẫn của Đức Phật, nó có thể tu tập tâm đến tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) theo hệ thống thiền (jhāna) bốn bậc.

Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati) nên được tu tập theo bốn bước theo Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm (Ānāpānassati Sutta), đó là, 

(1) nhận biết hơi thở dài, 

(2) nhận biết hơi thở ngắn, 

(3) nhận biết toàn thân hơi thở, 

(4) an tịnh hơi thở. 

Trong thực hành, theo hướng dẫn được đưa ra trong các Chú giải, đầu tiên hành giả được dạy nhận biết hơi thở vào (assāsa) và hơi thở ra (passāsa) bằng phương pháp Đếm (Gaṇanānaya) để phát triển niệm một cách nhanh chóng.

Hành giả (yogi) nên nhận biết hơi thở vào và hơi thở ra nhờ sự xúc chạm nhẹ nhàng của chúng ở đầu mũi hoặc lỗ mũi hay ở môi trên, bất kỳ chỗ nào mà sự xúc chạm là rõ ràng trong khi hành giả ngồi thẳng lưng, buông lỏng với mắt nhắm và thở một cách bình thường.

“Chỉ khi hành giả thực hành niệm hơi thở (ānāpānassati) bằng cách an trú niệm trên hơi thở ở điểm xúc chạm rõ ràng với hơi thở vào và hơi thở ra thì hành giả mới hoàn thành đầy đủ định niệm hơi thở (ānāpānassati) và thiền” 

Hành giả nên tập trung tâm mình ở một điểm (điểm xúc chạm) trên hơi thở để phát triển nhất tâm (ekaggatā), là một tâm sở đại diện cho định (samādhi). Hành giả không nên để tâm mình lang thang đến các đối tượng giác quan khác hay bất kỳ cảm giác thân thể nào không phải là đề mục niệm hơi thở (ānāpānassati).

Phương Pháp Đếm

Trong việc đếm hơi thở, hành giả nên thở vào, thở ra và đếm một; thở vào, thở ra và đếm hai, và cứ thế tiếp tục đến tám với sự tôn kính Bát Thánh Đạo. Khi tâm vẫn lặng lẽ gắn chặt vào hơi thở khoảng một giờ đồng hồ trong mỗi thời ngồi thiền, hành giả có thể dừng việc đếm và tiếp tục nhận biết hơi thở một cách lặng lẽ. Khi hành giả có thể tập trung vào hơi thở trong một giờ hay hơn nữa ở mỗi thời ngồi thiền, hành giả ấy nên tiến đến bước tiếp theo.

Nhận Biết Chiều Dài Hơi Thở Cũng Như Toàn Thân Hơi Thở

Chiều dài hơi thở nên được xác định bằng khoảng thời gian diễn ra hơi thở. Nếu dùng nhiều thời gian để thở vào hay thở ra thì hơi thở đó diễn ra dài. Nếu dùng ít thời gian để thở vào hay thở ra thì hơi thở đó diễn ra ngắn.

Hơi thở có thể là dài hay ngắn trong một lúc hay toàn thời ngồi thiền. Bất kể nó là gì, sau khi hành giả nhận biết chiều dài của hơi thở, hành giả cũng nên nhận biết toàn thân hơi thở từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc ở điểm xúc chạm của nó ở đầu mũi hoặc ở lỗ mũi hoặc ở môi trên. Hành giả không nên theo hơi thở đi vào phía trong hay ra bên ngoài. Hành giả nên hành động như một người gác cổng.

Một người gác cổng không kiểm tra từng người ở bên trong hay bên ngoài đô thị vì chúng không phải là việc của anh ta. Nhưng người gác cổng xem xét từng người khi người đó đến cổng. Tương tự, hành giả không quan tâm đến hơi thở đã vào trong hay ra ngoài mũi vì nó không phải là việc của hành giả. Nhưng mối quan tâm của hành giả chính là mỗi lần hơi thở vào hay hơi thở ra đến nơi cửa lỗ mũi.

Hành giả cũng nên hành động như một người thợ xẻ gỗ. Người thợ xẻ tập trung sự chú ý của mình vào các răng cưa ở điểm tiếp xúc với khúc gỗ mà không quan tâm đến các răng cưa đang tiến lại gần hoặc đi ra xa, mặc dù khi chúng làm như vậy, không phải là anh ta không thể biết chúng.

Theo cách tương tự, hành giả an trú niệm trên hơi thở ở điểm xúc chạm với lỗ mũi hoặc với môi trên mà không quan tâm đến hơi thở vào và hơi thở ra khi chúng tiến lại gần hay đi ra xa, mặc dù khi chúng làm như vậy, không phải là hành giả không thể biết chúng.

Khi hành giả có thể tập trung tâm mình một cách lặng lẽ và chú tâm vào lúc bắt đầu, lúc giữa và lúc cuối của hơi thở vào và hơi thở ra trong một giờ đồng hồ hoặc hơn nữa ở mỗi thời ngồi thiền, hành giả nên tiến lên bước thứ tư.

An Tịnh Hơi Thở

Khi hành giả chú tâm quan sát hơi thở vào và hơi thở ra để nhận biết toàn thân hơi thở, hơi thở của hành giả sẽ càng trở nên nhẹ nhàng và vi tế hơn. Trong khi các đề mục thiền khác trở nên càng rõ ràng hơn ở các giai đoạn cao hơn, niệm hơi thở (ānāpānassati) thì không như vậy. Thực tế, khi hành giả tiếp tục tu tập, hơi thở càng trở nên vi tế hơn đối với hành giả ở mỗi giai đoạn cao hơn, và thậm chí đến lúc mà nó không còn rõ ràng hay biểu hiện nào nữa.

Khi hơi thở trở nên không còn rõ ràng nữa, hành giả không nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi. Hành giả nên tiếp tục ngồi thiền như trước và tạm thời thay hơi thở thực tại bằng nơi mà hơi thở bình thường vẫn xúc chạm như là đề mục hành thiền.

Khi hành giả chú tâm theo cách này, niệm của hành giả sẽ tăng trưởng từ từ và hơi thở sẽ xuất hiện trở lại không lâu sau đó. Rồi hành giả nên tiếp tục tập trung sự chú ý vào hơi thở vào và hơi thở ra ở điểm xúc chạm để nhận biết toàn thân hơi thở.

Đăng bởi trung08:38

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

Sống khỏe nhờ luyện thiền khí công

Sống khỏe nhờ luyện thiền khí công

Sự dung hợp giữa tu thiền Phật giáo với dưỡng sinh Trung Quốc, khiến cho phương pháp tọa thiền của đạo Phật ngày càng có công dụng dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe. 
Hiện nay có nhiều phương pháp luyện công nổi tiếng như Thiên Thai chỉ quán (Trí Nghỉ chỉ quán liệu pháp), Đạt Ma quán bích liệu pháp, Chánh giác mặc chiếu thiền pháp, Ngũ môn thiền đối trị pháp, Du già minh tưởng thuật … 
This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 609x500px.
1ded3b3d5e320121.jpg Sống khỏe nhờ luyện thiền khí công
Ngay từ ngày xưa ông bà ta đã biết áp dụng khí công với tu thiền để ngăn ngừa và chữa trị các loại bệnh tật (ảnh minh họa)
Phép hô hấp để rèn luyện và điều chỉnh hơi thở
Có một lần, Đức Phật Thích Ca hỏi các sa môn: “Sinh mệnh con người ở trong khoảng nào?”, một vị đáp: “Trong khoảng vài ngày”, Phật nói: “Ngươi chưa thể đắc đạo”. 
Lại hỏi một sa môn, vị này trả lời: “Trong khoảng ăn uống”. Phật cười nói “Ngươi chưa thể đắc đạo”. Hỏi người thứ ba được nghe câu trả lời “Trong khoảng hơi thở, khí ra mà không vào, khí vào mà không ra”. Phật khen “Lành thay, ngươi có thể gọi là đắc đạo”.
Qua câu chuyện chúng ta thấy rõ, hô hấp là cơ sở để duy trì sinh mệnh con người. Chính vì yếu tố này mà các tổ sư ngày xưa đã đưa ra phương pháp “Thai tức pháp” là phép hô hấp để rèn luyện và điều chỉnh hơi thở.
Tương truyền cách tập luyện này là do Bồ Đề Đạt Ma truyền lại. “Thai tức” bao gồm 2 loại là Bế tức và Điều tức. Theo đó Bế tức là rèn luyện ngưng thở để tạo năng lực kéo dài hơi thở, có thể ngưng thở với thời gian lâu.
Còn Điều tức là điều hòa hơi thở thông qua phương pháp luyện khí ra vào, sao cho đưa con người trở về trạng thái tĩnh lặng nhất. Cả hai đều có công dụng làm tích tụ nguyên khí (năng lượng – PV) trong cơ thể con người từ đó đạt được sự khỏe mạnh và nâng cao tuổi thọ hơn. 
Chúng ta có thể tập Bế tức bằng cách mỗi ngày vào giờ Tý (23h đêm – 1h sáng) đến giờ Ngọ (11h – 13h trưa). Lúc tập có thể ngồi hoặc nằm, nhắm mắt không chú ý gì hết, không suy nghĩ cái gì. Đối với lối sống hiện đại thì nên rèn luyện 1 lần vào buổi sáng và 1 lần vào lúc sắp ngủ.  
Người mới tập có thể dùng mũi chầm chậm hít vào rồi ngưng thở đếm thầm từ 1 đến 10 hoặc hơn, đến lúc không nín thở được nữa thì từ từ thở toàn bộ khí ra. Hít vào hay thở ra đều phải chú ý đến các yếu tố lâu, dài, nhẹ, êm không tiếng. Sau khi tập luyện lâu ngày có thể đạt đến đến mức “để lông hồng trước mũi vẫn không động”.
Còn đối với Điều tức pháp, thời gian luyện công giống như trên, ngồi xếp bằng, 2 lòng bàn tay chồng lên nhau ngửa lên, hai ngón cái giao nhau, đưa xuống bụng dưới, trừ tạp niệm (những ý nghĩ không hay – PV), lưỡi cuốn lên vòm miệng. 
Trước hết hô hấp tự nhiên, đếm thầm từ 1 đến 10… lặp đi lặp lại. Sau khi thật sự thoải mái nhất (không còn để ý gì xung quanh – PV), đổi sang cách thở bụng, hô hấp sâu, nhẹ, dài, đều để nhập tĩnh (lắng đọng tâm – PV) ở mức độ cao, hơi thở dần dần rất chậm. Sau khi luyện không nên cử động mạnh, trước hết phải xoa mặt, chà tai, dần dần mở mắt, sau đó đứng dạy.
Luyện bế khí và điều khí không nên gắng gượng mà phải tuần tự tu luyện. Người có bệnh thần kinh phân liệt, ung thư gan giai đoạn giữa, bệnh huyết mạch nghiêm trọng thì không nên tập.
This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 680x491px.
1dc383c1ee320122.jpg Sống khỏe nhờ luyện thiền khí công
Việc ngồi thiền nếu biết cách áp dụng có thể đem lại nhiều lợi ích cho người tu tập (ảnh minh họa)
Điều chỉnh hô hấp và bài trừ tạp niệm
Tên phương pháp là Điều tức liệu pháp, cách tập đối với người mới học tu thiền, có lợi cho sức khỏe. 
Để tập luyện, các hành giả cần ngồi thoải mái, ngay ngắn, hai tay đặt ở trước bụng, toàn thân thả lỏng. Dùng lưỡi quét khoang miệng mấy lần, nhè nhẹ thở khí qua miệng rồi dùng mũi nạp thanh khí (không khí bên ngoài – PV) vào 3-5 lần không để phát ra thanh âm (tiếng – PV). 
Nếu trong miệng sinh ra nước miếng thì nuốt, hai hàm răng gõ vào nhau, lưỡi cong lên vòm miệng, mắt hơi nhắm. Rồi đếm thầm hơi thở từ 1 đến 100 rồi lặp lại khiến cho ý niệm tập trung, hơi thở nhẹ nhàng, dần dần đạt đến cảnh giới “tâm tức tương y” (tâm và hơi thở nương vào nhau). 
Duy trì luyện công từ 1 tiếng đồng hồ trở lên. Lúc thâu công (chuẩn bị kết thúc tập luyện – PV) nên từ từ thả lỏng tay chân, mở hai mắt, xoa mặt và tứ chi. 
Liệu pháp này có thể dùng để trị liệu các chứng hư nhược, bệnh mạn tính như mất ngủ, suy nhược thần kinh, nội phân tiết thất điều… đối với người không bệnh cũng có tác dụng tốt cho sức khỏe.
Ngồi yên không suy nghĩ để chữa bệnh
Nhân Thị Tử tĩnh tọa liệu pháp, là phương pháp tĩnh tọa (ngồi yên lặng không suy nghĩ – PV) dưỡng sinh do Tưởng Duy Kiều (1872 – 1958), tự là Trúc Trang, hiệu là Nhân Thị Tử, một nhà khí công nổi tiếng cận đại sáng lập.
 Sống khỏe nhờ luyện thiền khí công
Thường xuyên áp dụng thiền và điều khí sẽ đem lại cho người tập gia tăng sức khoẻ, đẩy lùi bệnh tật (ảnh các người đẹp ngồi thiền ở chùa Vĩnh Nghiêm – TPHCM)
Ở đây Tưởng Duy Kiều dung hòa giữa phương pháp tu tập của Thiền tông với công pháp Tiểu châu thiên của Đạo gia. 
Để áp dụng, người hành giả chọn nơi tĩnh lặng, đóng cửa để không bị người khác quấy rầy, tùy ý ngồi xếp bằng hay ngồi bình thường trên giường hoặc ghế, mở áo rộng, phần ngực hơi hướng về trước, mông hơi nhô ra sau, khiến cho sống lưng thẳng, bụng dưới vững chắc, hai tay đặt trên chân, lòng bàn tay chồng lên nhau trước bụng dưới. 
Sau đó thân trên hơi lắc nhẹ sang bên trái, phải, đầu giữ thẳng, toàn thân thả lỏng tự nhiên, ý tập trung ở bụng dưới, hơi nhắm hai mắt, hô hấp như thường. Tiếp theo mở miệng đưa toàn bộ khí ra rồi cuốn lưỡi lên vòm miệng, miệng ngậm nhẹ, dùng mũi hít không khí bên ngoài, hít thở 7 lần. 
Thời gian tĩnh tọa tốt nhất là buổi sáng khi ngủ dậy và buổi tối trước khi ngủ, nếu không thì mỗi ngày ít nhất có 1 lần tĩnh tọa khoảng mấy phút trở lên. Sau khi đạt đến một trình độ nhất định, khí trong cơ thể sẽ điều chuyển trong kinh lạc (huyệt đạo trong người – PV) mà sản sinh hiệu ứng “Châu thiên” (gia tăng sức khoẻ, đẩy lùi bệnh tật – PV).
Lúc kết thúc từ từ mở mắt, cử động chân tay, không nên vận động mạnh ngay. Phép này có công dụng bảo vệ sức khỏe cho người trung lão niên và người cơ thể suy nhược, lại có thể chữa trị cơ năng hô hấp, hệ thống tiêu hóa cùng các bệnh mạn tính, có hiệu quả rất tốt trong việc chữa trị các chứng di tinh, dương suy, trĩ, thoát giang, đầu váng, đau đầu…
Thiên Tường (theo Bee.net)

Đăng bởi trung20:08

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Bí quyết của thiền

st

Có lần một Nho sinh đi đến Thiền sư để hỏi về giáo lý Phật, vị Thiền sư đã trích dẫn một lời nói của Khổng Tử: "Các trò nghĩ rằng ta có điều gì dấu các trò chăng? Không, ta không có điều gì dấu các trò cả". Vị Thiền sư không để cho Nho sinh hỏi thêm câu nào, nên người kia bỏ đi trong tâm trạng hoang man và bối rối. Vài ngày sau, khi hai người cùng đi dạo trong núi ngang qua một bụi hoa dại, vị Thiền sư quay lại hỏi: "Ông có ngửi thấy gì không?" Nho sinh trả lời có, Thiền sư bảo: "Đấy, tôi có dấu gì ông đâu!" Nho sinh tức thì liễu ngộ. Vì nói về bí quyết của Thiền thì thật mâu thuẫn, và mặc dù những câu trả lời của các Thiền sư phần lớn đều có vẻ khó hiểu, họ đã không che dấu chúng ta điều gì. Thiền khó hiểu chính vì nó quá rõ ràng, chúng ta không bao giờ gặp được vì cứ lo tìm kiếm một cái gì bí ẩn. Chúng ta ham để mắt về phía chân trời, nên không thấy được những gì nằm ngay dưới chân ta. Thiền sư Bạch Ẩn nói:

Tất cả chúng sanh vốn là Phật,
Như băng và nước vẫn là một.

Ngoài nước không có băng,

Ngoài chúng sanh, tìm đâu thấy Phật?

Vì không biết đạo nằm ngay trước mắt,

Người ta tìm nó tận đâu đâu.

Như người ở ngay giữa dòng sông,

Mà kêu gào xin nước uống.

Con người thường không đủ đức bình dị để thấy những sự việc hiển nhiên gần gũi nhất. Thiền nhận thấy những tín đồ Đại thừa đang tìm chân lý qua kinh điển, qua những người Thánh thiện và những vị Phật, và tin rằng những vị này và kinh điển sẽ khai thị chân lý cho họ nếu họ sống một đời xứng đáng. Người nào tỏ vẻ khiêm tốn nghĩ rằng Tuệ giác là một cái gì quá cao siêu không đời nào hiển lộ trong những sự vật hàng ngày, thì sự khiêm tốn ấy chỉ là một hình thức kiêu căng vi tế. Trong thân tâm, người kia tự cho mình rất cao siêu, phải ra khỏi thế gian mới thấy được chân lý, và người ấy kiêu căng đến độ chỉ đón nhận chân lý từ kim khẩu của Thánh hiền và từ Thánh điển. Họ không chịu thấy chân lý ngay trong người thường, việc thường, ngay trong chính mình, vì họ quá kiêu căng để nhìn mình đúng như thật.

Thay vì đi tìm chân lý, người ấy che dấu những bất toàn của mình dưới lớp áo "công đức" và tiếp xúc với Phật qua những chiếc mặt nạ. Ðối với Thiền, thì dọn mình cẩn thận để đi tìm chân lý ở một thời điểm vị lai, từ một nguồn bên ngoài mình, chính là trì hoãn việc nhìn thấy mọi sự đúng như bản chất của chúng (như thật tri kiến) ngay trong lúc này, dù chúng tốt hay xấu. Một người không thể thấy chân lý ngay trong chính mình, thì không một vị Phật nào có thể khai thị cho họ. Một người không thấy được chân lý ngay lúc này thì không hy vọng gì thấy nó trong tương lai. Bởi thế, Thiền dạy rằng, không ai có thể tìm thấy Phật ở trong một cõi thiên đường nào, nếu họ đã không tìm thấy Phật ngay trong chính mình, và ngay trong chúng sinh khác. Họ đừng hòng đạt Tuệ giác trong một am cốc nào, nếu không thấy được chân lý ngay trong đời sống hàng ngày của thế gian.

Nguyên lý đầu tiên của Ðại thừa là mọi sự vật dù bề ngoài có vẻ xấu xa vô nghĩa đến đâu, cũng đều là những mảnh vụn của Phật tính, và điều này có nghĩa cần phải chấp nhận mọi sự vật, không thể gạt bỏ một cái gì khỏi xứ Tịnh độ, xem nó là "thế tục" tầm thường, thấp kém. Như Thomas Kempis đã viết: "Nếu lòng người chân chính, thì mọi sinh vật đều là những tấm gương phản chiếu đời sống, một cuốn Thánh kinh. Không có một sinh vật nào dù hèn mọn đến đâu, mà không phản chiếu sự thuần thiện của Thượng đế". Khi được hỏi đạo là gì, một Thiền sư trả lời: "Tâm bình thường là đạo". Tổ Bách Trượng bảo rằng Thiền có nghĩa là: "Ðói ăn, khát uống, mệt ngủ". Một Thiền sư khác cho rằng, con người Tôn giáo đích thực thì cứ sống cuộc đời mình trong mọi hoàn cảnh khác nhau của thế gian. Người ấy sáng dậy, mặc áo đi làm việc. Khi muốn đi thì đi, muốn ngồi thì ngồi. Người ấy không khát khao thành Phật. Vì sao? Nguời xưa có câu rằng: "Nếu ta nỗ lực để thành Phật, thì vị Phật ấy chính là nguồn gốc của luân hồi sinh tử".

Nếu mọi sự vật trong bản chất chính là đạo hay Phật tính, thì cần gì nỗ lực để thành Phật và đạt Niết-bàn? Ðối với những người có mắt để nhìn, thì chân lý vĩnh cửu, Phật tính hiển lộ trước mắt ta ngay bây giờ ở chỗ này, trong chính những tư tưởng và hành động của ta, trong dòng biến dịch đang tuôn chảy không ngừng. Bởi thế, thật phi lý để đi tìm Phật tính xem nó như là một cái gì khác hơn sự sống thường nhật. Tổ Huệ Năng dạy rằng, sự khác biệt giữa một đức Phật và phàm phu là: Phật nhận chân được Phật tính, còn phàm phu thì không. Thiền sư Bạch Ẩn nói: "Ðất này chính là Tịnh độ, thân này chính là Phật thân".

Bởi thế, Thiền cho rằng nỗ lực để thành Phật tức là đã phân biệt giữa mình với Phật, ấy là nguồn gốc của ngã chấp, nó có nghĩa là tách rời ngã ra khỏi cuộc đời, khỏi chúng sinh khác và đây là một hình thức điên nhẹ, vì người điên là người tự cô lập nhất trong thế giới. Bởi thế, Thiền gạt bỏ thẳng tay mọi ý tưởng ngoại lai về Phật và Niết-bàn. Nó phá vỡ không nương tay mọi khái niệm và biểu tượng về Phật. Một Thiền sư nói: "Nếu các ông muốn hiểu Thiền chính thống nghĩa là gì, thì đừng để người khác đánh lừa; bất luận trong ông hay ngoài ông, nếu ông gặp một chướng ngại nào thì hãy diệt nó lập tức. Gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, giết hết đừng ngần ngại, vì đây là cách giải thoát duy nhất. Ðừng vướng bận một đối tượng nào, hãy vượt lên trên, vượt qua và giải thoát". Tục ngữ Thiền có câu: "Ðừng chần chờ ở nơi nào có Phật, và nơi nào không có Phật, càng nên vượt qua cho mau". Một câu chuyện lý thú về điểm này là câu chuyện Tổ sư Ðan Hà và tượng Phật gỗ. Vào một đêm đông, Ðan Hà tạm trú trong một ngôi Chùa. Khi lò lửa lò sưởi gần tắt, Ngài đi đến bàn thờ Phật lấy xuống một pho tượng gỗ bỏ thêm vào lò sưởi. Khi hay chuyện, vị chủ Chùa trách cứ Ðan Hà về tội bất kính. Ðan Hà làm bộ bới tìm đống tro mà nói:

- Tôi đang nhặt Xá lợi đây.

Vị chủ Chùa ngạc nhiên hỏi:

- Làm sao Ngài nhặt Xá lợi được từ một cái tượng gỗ.

Ðan Hà trả lời:

- Nếu không có Xá lợi thì dĩ nhiên đây không phải là Phật và tôi cũng chẳng mang tội bất kính. Vậy thì Ngài hãy cho tôi xin nốt pho tượng còn lại để sưởi chứ?

Thiền bởi thế là pháp tu trực tiếp nhất, gạt bỏ mọi trợ duyên cho tín ngưỡng vì dễ đưa người ta đến chỗ hoang man. Kinh điển chỉ có lợi ích khi được xem như những cậy gậy chống, và những Thiền sư thường ví nó với ngón tay chỉ mặt trăng. Chỉ có người điên mới cho ngón tay là mặt trăng. Thiền được tóm tắt như sau:

Bất lập văn tự,

Giáo ngoại biệt truyền.

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật.

(Ðặc biệt truyền thừa sự giác ngộ không lệ thuộc kinh điển, không dựa vào ngôn ngữ, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật).

Nhưng, trong khi chúng ta có thể hiểu rằng chân lý Thiền quá rõ ràng, nó ở ngay trước mắt ta mọi lúc, điều ấy cũng không giúp chúng ta bao nhiêu. Dường như không có gì đặc biệt trong đời sống thường nhật. Không có gì trong sự ăn cơm, mặc áo, rửa tay chứng tỏ về Niết-bàn và Phật tính cả. Nhưng, khi một vị sư hỏi Triệu Châu rằng đạo là gì, thì Ngài đáp đời sống thường ngày chính là đạo. Vị sư lại hỏi làm thế nào để sống hợp với đạo, thì Triệu Châu trả lời: "Nếu muốn sống hòa hợp với đạo, thì sẽ xa đạo". Bởi vì sự sống, ngay trong những loạt biến cố tầm thường hàng ngày là một cái gì không thể nắm bắt và định nghĩa. Không bao giờ nó ở nguyên trạng dù chỉ trong chốc lát; chúng ta không bao giờ có thể làm cho sự sống đứng yên để phân tích và định nghĩa. Nếu chúng ta cố suy nghĩ về tốc độ của thời gian đang trôi và tốc độ của sự biến chuyển nơi sự vật, thì tâm thức chúng ta bị đặt vào trong một cơn lốc, vì đấy là tốc lực không bao giờ có thể đo tính. Chúng ta càng cố gắng nắm lấy thời gian hiện tại, cố giữ lại một cảm giác khoái lạc, hay cố định nghĩa một cái gì bằng một lối ổn thỏa cho tất cả mọi thời, thì thực tại càng tuột khỏi tầm tay chúng ta.

Người ta thường bảo rằng định nghĩa là giết chết, và nếu ngọn gió phải dừng lại một giây để cho chúng ta nắm bắt và định nghĩa nó, thì nó không còn là gió nữa. Cuộc đời cũng như thế. Mọi sự vật và biến cố vĩnh viễn di động và biến dịch. Chúng ta không thể nắm bắt giây phút hiện tại để giữ nó ở lại với chúng ta, không thể gọi lại thời gian hay giữ mãi một cảm giác. Khi chúng ta cố làm việc ấy, thì chúng ta chỉ có một hoài niệm đã chết, thực tại không có ở đấy và chúng ta không thể nào thoải mái. Nếu bỗng chốc ta thấy mình hạnh phúc, và cố nghĩ cách duy trì hạnh phúc ấy bao nhiêu thì càng thấy nó qua nhanh bấy nhiêu. Chúng ta cố định nghĩa hạnh phúc để có thể tìm lại nó mỗi khi cảm thấy đau khổ. Một người nghĩ rằng: "Tôi hạnh phúc vì tôi đang ở đây. Bởi thế đối với tôi hạnh phúc có nghĩa là đến ở nơi này". Lần khác, người ấy đau khổ và đang cố áp dụng kinh nghiệm lần trước, nhưng đến nơi cũ thì chỉ còn cái hoài niệm đã chết về hạnh phúc, định nghĩa trước của y không còn đúng nữa. Bởi vì hạnh phúc cũng giống như những con chim xanh Maeterlink, khi cố bắt chúng thì chúng mất hết màu sắc; cũng như khi cố lấy nước bằng bàn tay, càng nắm chặt nước càng chảy mau qua các kẽ tay. Khi được hỏi đạo là gì, một Thiền sư đã trả lời: "Bước mau lên!" vì chúng ta chỉ có thể hiểu được đời sống khi ta đuổi kịp nó, gật đầu với nó và chấp nhận những biến chuyển đổi thay bất tận của nó. Do sự chấp nhận ấy mà môn đệ Thiền luôn luôn có một cảm thức ngạc nhiên bén nhạy, vì mọi sự luôn luôn đổi mới.

Vũ trụ bắt đầu tạo dựng ngay bây giờ, vì mọi sự ngay trong phút này mới được sinh ra, vũ trụ cũng chấm dứt ngay bây giờ, vì mọi sự ngay trong giây phút hiện tại đang chết. Thiền là một trực giác bén nhạy về sự vật khi chúng đang sống và biến chuyển, khác với sự nắm bắt ý tưởng và cảm giác về sự vật, những biểu tượng chết của một thực tại sống. Thiền sư Takua (Đạt Quán) nói về nghệ thuật đánh kiếm, một nghệ thuật chịu nhiều ảnh hưởng của Thiền, như sau: "Thái độ tâm thức không can thiệp là yếu tố cốt tủy trong nghệ thuật đấu kiếm cũng như trong Thiền. Nếu có một kẽ hở nào dù chỉ bằng tơ tóc giữa hai động tác, thế là thua ngay". Nghĩa là sự giao tiếp giữa biến cố và phản ứng của tâm trước biến cố, không được để cho gián đoạn vì suy nghĩ. Ông nói tiếp: "Khi hai tay vỗ vào nhau thì âm thanh tự nhiên bộc phát không có một lúc chần chờ. Âm thanh không đợi để suy nghĩ trước khi phát ra. Ở đây không có thời gian xen vào giữa, động tác này tiếp theo động tác khác không bị gián đoạn bởi ý thức. Nếu ta chia trí và suy nghĩ nên làm cái gì khi thấy đối phương sắp đánh mình tức là ta đã để cho đối phương một dịp may quật ngã mình. Hãy để cho sự chống trả tiếp theo sự tấn công không gián đoạn, khi ấy sẽ không có hai động tác tách biệt được gọi là tấn công và chống trả. Nếu sự tấn công là ngoại giới hay cuộc đời, và sự chống trả là phản ứng của ta trước cuộc đời, thì điều này có nghĩa là sự phân biệt giữa ngã và cuộc đời bị phá hủy; ngã chấp biến mất khi sự tiếp xúc giữa hai bên có tính cách đồng thời đến độ chúng cùng biến chuyển một lúc, cùng theo một nhịp độ. Thiền sư Đạt Quán nói thêm: "Tính cách lập tức của động tác nơi ta sẽ chấm dứt bằng sự tự bại của đối phương. Nó giống như một con thuyền lướt xuôi dòng thác. Trong Thiền cũng như trong nghệ thuật đánh kiếm, một tâm thức không do dự không gián đoạn, không có trung gian là điều tối cần. Bởi thế trong Thiền thường hay nói đến một làn chớp hay những tia lửa lóe ra từ sự cọ xát hai viên đá lửa. Nếu ai hiểu điều này có nghĩa là nhanh chóng tức là lầm to. Nó chỉ có nghĩa là sự đồng thời của động tác, sự di chuyển không gián đoạn của năng lực sống".

Cũng như khi ta nghe nhạc, nếu ta dừng lại để xem xét phản ứng tri thức và cảm xúc của ta trước một bản hòa âm khi nó đang được chơi, để phân tích cấu tạo của một nhạc khúc, hay để nhẩm lại một đoạn đặc biệt nào đó, thì toàn thể bản nhạc sẽ không được nghe một cách trọn vẹn. Muốn nghe trọn vẹn khúc hòa âm ta phải để hết tâm trí vào sự tuôn chảy của dòng nhạc ngay khi nó đến và đi, giữ tâm thức mình luôn luôn theo nhịp điệu của nhạc. Suy nghĩ về những gì đã qua, thắc mắc về những gì sắp đến, phân tích động tác của nó trên tâm mình, là đã gián đoạn bản hòa âm, để trôi mất thực tại. Toàn thể sự chú ý phải hướng về về khúc hòa âm và phải quên mình đi. Nếu có một nỗ lực hữu thức nào để tập trung vào khúc hòa âm, thì tâm thức đã bị dẫn xa bởi cái ý tưởng về chính mình đang cố tập trung tư tưởng. Ðấy là lý do tại sao Triệu Châu bảo vị Sư rằng nếu y cố sống hòa hợp với đạo thì y sẽ xa đạo. Thiền còn đi xa hơn cái việc bảo con người phải lắng nghe hòa âm thay vì suy nghĩ về phản ứng của mình đối với khúc hòa âm ấy, vì khi bảo một người nào dừng suy nghĩ tức đã làm cho họ nghĩ về sự dừng suy nghĩ. Cho nên, Thiền áp dụng phương pháp tích cực là nhấn mạnh khúc hòa âm của cuộc đời. Mọi lời bàn về nỗ lực hòa hợp tâm thức với đời sống sẽ bày thêm một khái niệm về cái tôi đang nỗ lực, và do đó lôi sự chú ý của người ra khỏi hiện thực cuộc đời. Chính thực tại cuộc đời là cái mà các Thiền sư muốn chỉ cho ta; họ chỉ cho ta chứ không xác định hay phủ định gì về nó. Bởi thế, một Thiền sư nói với môn đệ: "Hãy chỉ cho ta yếu nghĩa của Thiền mà không xác định cũng không chối bỏ. Phải nói thật nhanh, không thì ba chục hèo!" Người môn đệ không có thì giờ dừng lại để suy ra một câu trả lời; vị Thầy bắt buộc phải trả lời lập tức và tự nhiên như chính sự sống đang chuyển động.

Một Thiền sư nhóm họp đồ chúng rồi đưa lên một cây gậy và hỏi: "Các ông có thấy cái này không? Nó là cái gì? Nếu các ông bảo nó là một cây gậy thì không khác gì một người thường, có gì là Thiền? Nhưng nếu các ông bảo chúng tôi không thấy cây gậy nào cả thì tôi bảo rằng, ta đang cầm đây, làm sao các ông chối bỏ được sự kiện ấy?"

Một Thiền sư hỏi môn đệ: "Có lần một Thiền sư hỏi Qui Sơn, ý Ðạt Ma qua Trung hoa là gì, Qui Sơn đưa cây gậy lên. Ông hiểu thái độ của Qui Sơn như thế nào?" Người môn đệ trả lời: "Ý của vị Tổ sư là khải thị chân lý bằng phương tiện một thực tại khách quan". Vị Thầy bảo: "Ngươi hiểu như vậy cũng đúng. Nhưng cần gì phải lý luận như thế!". Khi ấy người môn đệ hỏi: "Vậy thì Thầy hiểu như thế nào?" Vị Thầy lẳng lặng đưa cao tích trượng của ông lên.

Một hôm Tổ Bách Trượng đặt một cái bình trước hai môn đệ và bảo: "Ðừng gọi đây là một cái bình, nhưng phải nói cho ta biết nó là cái gì?" Một môn đệ trả lời: "Không thể gọi nó là một thanh gỗ". Tổ Bách Trượng cho rằng câu trả lời ấy không được, nên hỏi người kia, và để trả lời, vị môn đệ thứ hai tiến tới đá đổ bình nước rồi bỏ đi. Kết quả Bách Trượng truyền pháp cho vị này thừa kế.

Với cách ấy, những Thiền sư đưa tâm thức của môn đệ mình trực tiếp với cuộc sống, với quá trình luôn luôn di động chuyển biến, mà cũng chính là Phật tính hiển lộ thường trực. Biết được Phật tính chính là biết sự sống miên viễn tách biệt với những ngăn cách do ngã chấp, xem cái tôi như một thực thể tách biệt khỏi cuộc đời, chỉ chú trọng những phản ứng riêng tư của mình trước thực tại xem như mình là một cái gì tách biệt với thực tại. Ðức Phật dạy rằng nguyên nhân sự điên đảo này chính là khát ái (tanha) thường dịch lầm là dục vọng, nhưng danh từ tanha nghĩa đen là cơn khát, nghĩa là khát ái đối với sự sống. Trong giáo lý đức Phật, nó có nghĩa là sự khao khát đời sống kể như một thực thể biệt lập, như một người đứng ở ngoài xem xét những hậu quả mà cuộc sống sẽ đem lại cho mình. Ngoài hậu quả này y không có một nhận thức nào về cuộc sống, y chưa từng sống một cách thực thụ.

Trở lại với tỷ dụ nghe nhạc, người ấy giống như kẻ bận tâm quá độ về những cảm giác của mình đối với nhạc khúc đến nỗi y chỉ nghe nhạc với nửa người của y, vì trong khi y suy nghĩ về những hậu quả của nhạc khúc đầu tiên, thì ban nhạc đã chơi nhiều nhạc khúc khác mà y hoàn toàn không nghe được. Trong khi những nhà tư tưởng Ðại thừa xét những vấn đề này trên phương diện tri thức, lưu tâm đến ý tưởng hơn là thực tại, thì trái lại Thiền vượt ngoài mọi tư duy lý luận. Khi được hỏi về ý nghĩa tối hậu của đạo Phật, Thiền trả lời: "Cây bách trước sân", "bụi tre dưới đồi" v.v... nghĩa là bất cứ gì đưa tâm thức trở về, từ tư duy trừu tượng đến thực tại cuộc sống.

Một điểm đặc biệt quan trọng khác của Thiền có thể gọi là "sự nghèo nàn về tâm linh". Hầu hết mọi hình thức Tôn giáo đều nhấn mạnh sự nghèo khó và xem của cải là chướng ngại cho tiến bộ tâm linh, nhưng trong khi Thiền sư dĩ nhiên không có của cải vật chất nào đáng kể, họ giải thích sự nghèo khó theo nghĩa tâm lý hơn là vật lý. Thông thường để định nghĩa sự sống, người ta phải xác định (về người, vật, hay tư tưởng), rằng "cái này là của tôi". Nhưng vì sự sống vĩnh viễn tuôn chảy, nên mỗi khi chúng ta tưởng mình sở hữu một cái gì, thì ta đã đánh mất nó. Chúng ta chỉ sở hữu độc một ý tưởng của riêng ta về đối tượng mà ta ưa muốn - một ý tưởng có khuynh hướng cố định, không chịu lớn theo đà phát triển của sự vật. Một thói đặc biệt của người bị ám bởi lòng tham chiếm hữu đối với vật chất hay tư tưởng, là muốn cho mọi sự vẫn y nguyên. Không những họ muốn tài sản tiếp tục ở trong tay họ, mà họ còn muốn nó đừng biến đổi. Có những nhà thần học và triết gia tỏ ra vô cùng lo lắng nếu có ai hoài nghi những tư tưởng của mình về vũ trụ, vì họ tưởng tượng trong lý thuyết của mình đã chứa đựng chân lý tối hậu và mất lý thuyết thì cũng như mất chân lý.

Nhưng chân lý vốn linh hoạt, không bị trói buộc bởi bất cứ gì thiếu sự sống, nghĩa là một khái niệm bất biến. Một khi chúng ta tưởng đã nắm được chân lý cuộc đời thì chân lý đã tan biến. Chân lý không thể trở thành sở hữu của riêng ai, bởi vì chân lý chính là sự sống, và người nào nghĩ rằng mình sở hữu tất cả sự sống thì thật là phi lý. Một phần không thể sở hữu toàn bộ. Trang Tử kể câu chuyện sau đây: "A hỏi B, người ta có thể lấy đạo làm của riêng không. B trả lời, chính ngay xác thân ông cũng không phải của ông, thì làm sao đạo lại là của ông được? A nói, nếu thân tôi không phải là của tôi thì của ai? B trả lời, đó là một hình ảnh đại biểu cho đạo. Ðời ông không phải của ông, nó đại biểu cho sự hòa điệu của đạo. Cá tính ông không phải của ông, nó đại biểu cho sự thích nghi của đạo. Ông sống mà không hiểu thế nào, ông chết mà không biết vì sao, tất cả đều là vận hành của đạo. Thế thì làm sao ông có thể lấy đạo về cho riêng mình?"

Không ai có thể chiếm hữu cuộc đời; cũng thế không có một tư tưởng nào cho con người nắm lấy để định nghĩa cuộc đời; cho rằng mình đã nắm được bí quyết sự sống chính là ảo tưởng. Nếu sự sống đã không bao giờ có thể nắm bắt, thì làm sao có thể hiểu được? Bằng cách nào ta có thể biết được chân lý nếu không thể định nghĩa chân lý là gì? Thiền trả lời, bằng cách đừng cố nắm bắt hay định nghĩa nó. Ðấy là lý tưởng vô trú của Phật giáo hay vô vi của Lão Trang. Chẳng những ta không bao giờ sở hữu được cái gì, mà theo Phật giáo và Lão Trang, người cố chiếm hữu là kẻ bị ám, là những tên nô lệ cho ảo tưởng. Giải thoát là có thể an nhiên tự tại như chính cuộc đời, là làm một cơn gió bay đâu cũng được, người ta nghe tiếng gió nhưng không biết được gió từ đâu đến và sẽ đi đâu. Chúa Jésu bảo đấy là một con người sinh từ Ðấng Thánh linh. Nhưng vô trú không có nghĩa là chạy trốn thực tại để ẩn trong một am cốc thanh tịnh nào, vì chúng ta không bao giờ có thể thoát khỏi những ảo tưởng của mình về cuộc đời, chúng ta vẫn mang chúng theo mình, và mong thoát ly ảo tưởng lại là một ảo tưởng khác. Bởi vì dù có thái độ hài lòng hay sợ hãi đối với những ảo tưởng của mình, chúng ta đều bị chúng ám ảnh, do đó vô trú của Phật giáo hay vô vi của Lão Trang không phải là chạy trốn cuộc đời mà tùy thuận theo nó. Giải thoát chỉ xảy đến khi chúng ta hoàn toàn chấp nhận thực tại. Những người nuôi ảo tưởng đều là những người không chịu di chuyển; những người sợ ảo tưởng là những người chạy giật lùi về những ảo tưởng lớn hơn, trong khi những người chinh phục được ảo tưởng thì tiếp tục bước tới.

Sự nghèo nàn của môn đệ Thiền tông bởi thế là khía cạnh tiêu cực của giải thoát; vị ấy nghèo vì tâm không vướng những ham muốn vật chất và tri thức. Tâm trạng này là sự thể nghiệm lý thuyết tánh không (Sunyata) của Ðại thừa, sự trống rỗng của mọi hiện tượng. Không gì có thể nắm bắt được (vô sở đắc) vì mọi sự đều trống rỗng (không), cũng không có một cái gì làm chủ sự nắm bắt vì ngã cũng là không. Bởi thế kinh Viên Giác dạy, tất cả các pháp hữu vi như mây nổi, như trăng tàn, như bóng tàu trên đại dương, như bờ cát luôn bị nước cuốn, và những Thiền sư vì đã nhận được sự mong manh của ngã và pháp nên không còn bám víu vào những thứ ấy. Theo kinh Pháp Cú họ là những người "không sở hữu một vật gì, những người đã giải thoát nhờ hiểu được sự trống rỗng của vạn pháp. Ta không thể biết hành tung của những vị ấy, cũng như không thể theo dõi dấu chim bay".

Vì đời sống Thiền không di động trong hoen rỉ, là sự phóng khoáng của tâm linh không bị ràng buộc bởi những hoàn cảnh ngoại giới và ảo tưởng tâm thức. Bản chất chân thật của Thiền không thể được mô tả bằng lời mà chỉ có thể hiểu bằng so sánh. Nó như ngọn gió lướt trên mặt đất không dừng lại nơi nào, không vương vấn vật gì, mà luôn luôn thích nghi với sự lên xuống của mặt đất. Nếu sự so sánh này làm cho người ta tưởng Thiền là một chủ nghĩa buông trôi, mơ mộng, thì ta nên nhớ đấy không luôn luôn là một cơn gió nhẹ nhàng như Lão Trang vào thời suy đồi, mà là một cơn lốc dữ dội quét sạch mọi sự vật, một ngọn cuồng phong băng giá đi thẳng vào trọng tâm của cuộc đời, đâm suốt qua tim.

Sự giải thoát, thái độ nghèo nàn trong Thiền chính là từ bỏ mọi sự mà tiến lên, vì sống phải là như vậy, mà Thiền là Tôn giáo của sự sống. Những Thiền sư thường bảo các môn đệ hãy quên hết mọi sự đã học trước kia khi bước vào cửa Thiền, hãy quên hết những kiến thức của họ về Phật giáo vì chính đức Phật cũng dạy, giáo lý của Ngài như chiếc bè để qua sông, khi lên bờ thì hãy bỏ bè lại. Nhưng nhiều môn đệ của Ngài đã xem chiếc bè như bờ bên kia. Khía cạnh "từ bỏ tất cả" trong Thiền, nói một cách tích cực, lại là được tất cả. "Người nào từ bỏ cuộc đời của mình thì sẽ sống". Giáo sư Suzuki nhận xét rằng, trong khi một vài Thiền sư ưa nói đến sự nghèo nàn, thì những vị khác lại nhấn mạnh thái độ hỷ túc đối với mọi sự. Một Thiền sư nói:

Năm ngoái chưa đủ gọi nghèo,

Năm nay mới thật nghèo.

Năm ngoái không đất cắm dùi,

Năm nay cái dùi cũng không có.

Thiền sư Vô Môn lại nói:

Mùa Xuân có trăm hoa,

Mùa Thu có trăng tỏ.

Mùa Hè có gió mát,

Mùa Ðông tuyết trắng rơi.

Hãy tống khứ hết ý tưởng bá láp ra khỏi đầu ngươi,

Thì sẽ thấy mùa nào cũng vô cùng tuyệt diệu.

Thiền sư đón nhận sự biến chuyển của bốn mùa, cũng như chấp nhận sanh, già, bệnh, chết; không luyến tiếc dĩ vãng, cũng không lo sợ tương lai. Người học Thiền được tất cả vì chấp nhận tất cả: thông thường, càng nhiều sở hữu thì càng nhiều mất mát. Lại nữa, chiếm hữu vật gì tức là phủ nhận cái quyền sống và biến dịch của vật ấy. Bởi thế, sự mất mát độc nhất trong Thiền chỉ là mất sự phủ nhận ấy.

Qua những trình bày trên, học giả Tây phương sẽ đặt câu hỏi: "Thế thì luân lý, đạo đức đứng ở đâu trong đạo Thiền?" Mọi Tôn giáo đều có quy điều đạo đức và đức Phật tóm tắt giáo lý của Ngài như sau:

Dứt làm các điều ác,

Siêng làm các hạnh lành.

Giữ tâm ý thanh tịnh,

Là lời chư Phật dạy.

Người ta có thể tự hỏi, phải chăng có một mối nguy trầm trọng khi Thiền chấp nhận tất cả mọi sự xấu cũng như tốt xem như biểu hiện của Phật tính, vì nếu thế thì người ta có thể biện minh cho bất cứ hành động nào. Quả thế đây là một trở ngại mà các Thiền sư phải đương đầu. Những môn sinh thiếu trưởng thành thường lấy sự phá chấp của Thiền để biện minh cho nếp sống phóng dật buông lung, và chính vì lý do này các Thiền viện thường có một thanh quy nghiêm nhặt. Giải pháp cho khó khăn này là, đừng để ai học Thiền khi họ chưa thuần thục kỷ luật đạo đức. Trong khi đạo đức không phải là kỷ luật Tôn giáo, nó vẫn có thể đưa con người đi được một đoạn đường tiến đến mục đích. Ðạo đức không thể đi trọn con đường, vì thường cứng ngắc, có tính cách tri thức và giới hạn. Thiền bắt đầu ở chỗ đạo đức không còn áp dụng. Ðồng thời đạo đức chỉ có giá trị khi nó được công nhận làm phương tiện đạt đến cứu cánh; đạo đức là một tên tớ giỏi, nhưng lại là một ông chủ kinh khủng. Khi sử dụng đạo đức như một tên tớ thì nó có thể làm con người thích nghi với xã hội, dễ dàng hòa họp với bạn bè, và nhất là nó cho con người tự do để phát triển tâm linh. Nhưng khi đạo đức biến thành ông chủ, thì con người trở thành những kẻ cuồng tín lệ thuộc vào bộ máy quy ước đạo đức. Khi xem đạo đức như phương tiện để đạt đến cứu cánh, nó giúp cho xã hội có thể sống còn bảo đảm con người khỏi bị đồng loại cản trở, và nếu đạo đức không đem lại trí tuệ tâm linh, thì ít nhất cũng đem lại tự do cần thiết để phát triển tâm linh.

Một khu vườn phải có trật tự để những cây nhỏ và hoa không hại nhau, nhưng vẻ đẹp của khu vườn không phải ở nơi trật tự ấy, mà ở nơi những cây cối trật tự ấy mà được tăng trưởng. Và cũng như khu vườn cần được vun xới hoạch định trước khi trồng hoa, quy luật đạo đức cũng phải thuần thục trước quy luật tâm linh, vì cũng như những cây hoa có thể hại lẫn nhau, những môn đồ tâm linh cũng có thể trở thành những kẻ phóng dật. Tuy nhiên đạo đức trong ý nghĩa một phương tiện để thích nghi với xã hội, tự nó không đủ chuẩn bị cho đạo Thiền. Cần có một cái gì mạnh hơn nếu năng lực tâm linh muốn được phát triển tự do, mà đấy chính là kỷ luật tự giác. Ðức tính này thường rất hiếm thấy trong xã hội loài người, mặc dù không có xã hội nào có thể tồn tại lâu dài nếu không có tự giác và sự trường cữu của nền văn minh Trung hoa so với Cổ Hy Lạp, chính là nhờ Phật giáo và Khổng giáo đều nhấn mạnh sự tự giác kỷ luật một cách nghiêm nhặt. Bởi thế, một Thiền sư luôn luôn bắt môn đệ phải qua một thời gian gắt gao trước khi học Thiền. Sự luyện tập này được gọi là "nuôi lớn Thánh thai" (trưởng dưỡng Thánh thai). Có nhiều mẩu chuyện về những kỷ luật mà các Thiền sư đã tự buộc mình trong những giai đoạn đầu cuộc đời tu tập, làm sao họ đã hoàn toàn khắc phục được những tư tưởng và cảm xúc của mình, làm sao họ đã tập kiên gan cùng sương tuyết trong những ngôi Chùa đổ nát không có mái, có thể trông thấy sao trời lấp lánh về đêm.

Có một loại tranh về Thập mục ngưu đồ (mười giai đoạn chăn giữ con trâu tâm linh) chứng minh điểm này. Công việc liễu đạo Thiền được trình bày dưới ẩn dụ một người đuổi bắt và chăn giữ một con trâu tượng trưng cho tâm. Có mười bức tranh trình bày con trâu bị theo dõi, bị bắt và kềm chế cho đến khi nó thuần thục chịu để cho người cưỡi về nhà. Khi ấy con trâu quên mất, chỉ còn người chăn trâu ngồi yên lặng trong chòi. Bức tranh kế tiếp chỉ có một vòng tròn trắng nhan đề "Trâu và người đều mất dấu", mọi ảo tượng đã bị đánh tan và toàn thể vũ trụ khách quan chỉ là sự trống rỗng. Nhưng đây chưa phải là tất cả, bởi vì, mặc dù người môn đệ đã nhận chân được tính cách phù du của mọi hiện tượng, y vẫn chưa trực tiếp xúc chạm với chính cuộc đời, y thấy mọi sự là ảo ảnh, nhưng chưa nhận chân được Phật tính căn để trong đó. Bởi thế, bức tranh kế tiếp được gọi là "Trở về nguồn cội" trình bày một vài tia lá cỏ bên cạnh một dòng suối trong, trong khi ở bức tranh cuối cùng chúng ta thấy những vị Bồ-tát truyền thông cho mọi người những gì Ngài tìm được dưới hình thức một vị thần đem lại may mắn đi vào đô thị với đôi tay ban pháp lành. Trong bức tranh thứ năm trình bày con trâu đang được dẫn về, có bài thơ kèm theo:

Ðừng bao giờ rời roi và thừng,

Trâu sẽ đi lạc vào nơi ô uế.

Ðến khi con trâu đã thuần,

Nó ngoan ngoãn theo ta không cần giữ.

Khi tâm thức đã hoàn toàn được chế ngự, có những thói quen thích đáng, thì có thể bỏ những hạn chế bắt buộc, nhưng chỉ khi đạt tới bức tranh cuối cùng con người mới có thể bước đi một mình không cần theo dấu Thánh hiền ngày xưa. Vị ấy có thể xách giỏ đi vào trong chợ, chống gậy về nhà, chung đụng với những kẻ hàng thịt, rượu chè mà làm cho tất cả mọi người cùng hướng về Phật giáo.

Đăng bởi trung16:03

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

Tẩu hỏa nhập ma khi mở luân xa 6



Nhiều người sau khi khai mở luân xa (LX), tưởng mình có khả năng đặc biệt mà không biết đó là hiện tượng của bệnh lý thần kinh.


 Bị hoang tưởng vì năng lượng lạ xâm nhập
 Theo BS.VS Nguyễn Văn Thắng, việc tác động khai mở LX có hại nhiều hơn lợi.
Theo BS.VS Nguyễn Văn Thắng, việc tác động khai mở LX có hại nhiều hơn lợi.
Trả lời về vấn đề, nhiều người khi được khai mở LX, lúc ngồi thiền thì thấy xuất hiện các hiện tượng rất lạ như nói chuyện được với người âm, nhìn thấy người âm... nhìn được bằng con mắt thứ 3, xuất hồn... thầy Nguyễn Xuân Điều, Trưởng Bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh (Trung tâm Unesco - Văn hóa, dòng họ và gia đình Việt Nam) khẳng định, những người được mở LX, trong lúc ngồi thiền không ai có thể nói chuyện hoặc nhìn thấy người âm, hoặc xuất hồn. Trừ trường hợp một số người, trước khi đến tập đã mắc một căn bệnh mà danh từ chuyên môn “Năng lượng sinh học” gọi là “Thần kinh giả” (TKG).

Bệnh này là do sự xâm nhập của một dạng “năng lượng lạ” từ bên ngoài vào cơ thể con người, nó cư trú tại các hạch thần kinh. Bệnh này thuốc Tây y, Đông y không thể nào chữa được. Người mắc bệnh nay thấy đau chỗ này, mai đau chỗ khác, đau như giả vờ... Tính tình thay đổi, nóng giận thất thường, thậm chí còn gây tai họa trong gia đình: Vợ chồng chia ly, con cái hỗn láo, mắc tệ nạn xã hội, sự nghiệp tiêu tán và kết quả có thể dẫn đến cái chết đột ngột...

Người bị TKG là trụ cột trong gia đình không biết sẽ dẫn cả nhà đi đến đâu. Người quản lý một công ty lớn bị TKG thì không biết sẽ đưa công ty mà mình lãnh đạo đi đến đâu. Nam chưa vợ, nữ chưa chồng nếu bị TKG thì rất khó trong việc xây dựng gia đình... và có thể trở thành người sống cô độc.

Nguyên nhân của bệnh TKG yếu tố khách quan là do bị “năng lượng lạ” xâm nhập một cách tự nhiên. Tuổi bị năng lượng lạ xâm nhập có thể từ lúc còn trong bào thai, hoặc sinh ra được vài tháng tuổi, hoặc lúc tuổi thiếu niên, hoặc vào tuổi trung niên… nhưng những cụ già thường ít bị.

Những người bị TKG, khi tập thiền “Năng lượng sinh học” nếu được mở luân xa, căn bệnh sẵn có đến lúc này mới được bộc lộ ra, chứ không phải do đi tập thiền mà sinh ra bệnh TKG. Căn bệnh “ác tính” đó chỉ được giải quyết triệt để bằng kỹ thuật của môn “Năng lượng sinh học”. Một điều đáng chú ý là các năng lượng lạ này không xâm nhập qua các LX được mở mà nó xâm nhập trực tiếp vào các “hạch thần kinh” của người sống.
  
 Dòng hỏa xà gây tẩu hỏa nhập ma

BS.VS Nguyễn Văn Thắng, Chưởng môn phái Thăng Long Võ đạo cho biết, việc tu luyện khai mở theo các trường phái khác nhau nhưng đều đạt đến hợp nhất với năng lượng tuyệt đối giữa tiểu ngã và đại ngã. LX trông tựa như bánh xe quay nên gọi là luân xa. Thực tế, mỗi LX khai mở ít hay nhiều mà ánh sáng mờ ảo hay rực rỡ. Đây chính là thể hào quang. Hiện tượng này thiền gọi là hiện tượng thông lửa và khí công thì gọi là dòng chân khí đang xuyên qua các trung tâm lực để hợp nhất với nguyên thần. Ánh sáng nhiều màu sắc tỏa ra từ các LX sẽ tạo thành vầng hào quang bao quanh thân và sáng nhất là đỉnh đầu (thuộc LX 6 và 7). Mỗi LX mở nhiều hay ít đều có tác động trực tiếp đến các khu vực tại thân hay tâm mà LX đó phụ trách. Khai mở thần thông qua thể phách và khai ngộ tâm thông qua thể vía.

Còn thực tế, theo BS.VS Nguyễn Văn Thắng, việc tác động khai mở LX có hại nhiều hơn lợi. Vì LX 6 ở vùng trung tâm thần kinh trung ương cùng LX 7 ở đại não. Lại quản lý thùy trán, thùy của trí tuệ, lại đối diện với thùy chẩm, thùy của loạn động, hư vọng cho nên được chân sư khai mở đúng thì thùy trán được tỏa sáng và thùy chẩm tắt, con người sẽ có sức khoẻ, an lạc và trí tuệ. Nhưng khi khai mở không đúng thì LX 6 sẽ mờ tối thì thùy chẩm sẽ tăng cường hoạt động sinh nhiều hư vọng, hoang tưởng và gây mất điều chỉnh của 2 bán cầu đại não làm cho tinh thần rối loạn, tâm động làm bản ngã tăng lên và khi nặng có thể mất trí nhớ, tâm thần và có thể điên loạn, rất khó chữa.

“Tôi đã gặp rất nhiều người với mọi căn cơ như cán bộ khoa học, bác sĩ , kỹ sư và các ngành nghề khác do khai mở sau LX nên đưa đến một thân hình tiều tụy, điên loạn và họ có thể làm mọi thứ sai trái, không kiểm soát đựơc do rối loạn LX 6 và chính tôi đã sửa sai và điều chỉnh lại cho họ trở về trạng thái bình thường”,  BS.VS Nguyễn Văn Thắng cho biết.

Theo BS.VS Nguyễn Văn Thắng, LX 6 là một trong những LX khó khai mở nhất và dễ mắc sai sót khi khai mở nhất. Hơn nữa khai mở LX 6 cũng phụ thuộc vào sự khai mở của LX 7 và 4. Sự khai mở hệ thống LX có tính chất đồng bộ vì hệ thống LX có quan hệ chặt chẽ với nhau, thực chất không bao giờ trực tiếp khai mở LX 6 khi chưa khai mở một vài LX khác. Vì khi tập trung quán tưởng tại LX 6 mà quá tập trung nóng vội hay trong trạng thái căng thẳng sẽ làm cho dòng hỏa xà xông thẳng lên não và tụ tại não gây kích thích, căng thẳng, làm cho người bệnh rối loạn tinh thần và tâm năng sinh ra những ảo giác hoang tưởng và dần điên dại.

Lý do khi tập trung quán tưởng trong trạng thái tâm động, căng thẳng hay nóng vội, dòng hỏa xà lao thẳng lên LX 6 thuộc thùy tinh thần và trí tuệ gây mất điều chỉnh và rối loạn hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Hiện tượng này tiếp diễn thì gây tẩu hỏa. Tẩu hỏa là dòng hỏa hầu cứ cuốn vào não và lâu hơn thì từ tẩu hỏa thành nhập ma. Triệu chứng chung của tẩu hỏa nhập ma là họ đều bị nghịch khí gây nên căng thẳng, đau đầu, nóng đầu, buồn nôn, ảo giác, nhìn và nghe thấy điều lạ (nhưng là ảo giác) trạng thái tinh thần hoang tưởng, tự thấy mình có có khả năng nọ kia, nếu không được chữa trị ngay thì tâm và thân đều suy sụp, tiều tụy, không còn khả năng hòa nhập   cộng động.

Những người bị bệnh TKG thì nhất thiết không được quay lại con đường mê tín dị đoan, nên đi tập luyện và chữa trị để giải quyết bệnh kịp thời, bởi vì có trường hợp bị bệnh thần kinh giả, nếu để quá lâu thành thần kinh thật (có thể dẫn tới cái chết...) lúc đó việc giải quyết lại càng khó khăn hơn.

Theo Xuân Hòa
Kiến thức

Đăng bởi trung08:15

Khai mở luân xa 6 là mở được ra con mắt thứ 3 sẽ thành nhà ngoại cảm?


VN Times -

Nhiều người nghĩ khai mở luân xa (LX) 6 là mở được ra con mắt thứ 3, trở thành nhà ngoại cảm có thể nhìn được "thế giới vô hình". Vậy thực tế, Luân xa 6 và con mắt thứ ba là gì? LX 6 có thực sự khai mở được không và khi khai mở sẽ thấy điều gì? Ý kiến các nhà khoa học dưới đây sẽ cho ta cái nhìn tổng quát.



Khai Luân xa 6 con mắt thứ 3 - VNT

Chị  Hoàng Thị Thiêm (Hòa Bình) người có khả năng bịt mắt vẫn đọc được báo.



Cơ chế hoạt động của con mắt thứ 3



Theo BS Nguyễn Thế Dân, Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người, LX6 không phải là con mắt thứ 3. Con mắt thứ 3 là thuật ngữ tiếng Việt để chỉ một trong những khả năng tâm linh của những người có thể nhận biết được hình ảnh của đồ vật, sự kiện diễn ra trong quá khứ, hiện tại hay tương lai không bằng thị giác thông thường. Trong các tôn giáo, tín ngưỡng cổ xưa người ta đã nói đến con mắt thứ ba, nó thường được gọi là Huệ nhãn hay Tuệ nhãn, Thần nhãn, Thiên nhãn thông... Khái niệm này hay gặp nhất trong trường phái phật giáo Ấn Độ, Yoga và các kinh điển của phật giáo Tây Tạng.



Những người có con mắt thứ 3 là những người có khả năng thấu suốt (hay thấu thị), khả năng này thường được gắn với những người có năng lực phi thường, những vị thần thánh hay những bậc tiên tri... nhờ có con mắt thứ 3 mà các vị "siêu nhân" đó có những khả năng hết sức đặc biệt như tiên tri, thần giao cách cảm và chuyển di tư tưởng, giao tiếp từ xa, khả năng thu nhận kiến thức trực tiếp từ trí tuệ của vũ trụ, biết được quá khứ và tương lai, đọc ý nghĩ của người khác hay khám bệnh tâm linh... Trên các bức chân dung của các vị thánh thường thấy hình biểu tượng của con mắt thứ 3 ở huyệt Ấn đường ngay giữa 2 chân mày.



Trong lịch sử, có nhiều trường hợp những người có con mắt thứ 3 chỉ là những người bình thường, có thể do bẩm sinh, luyện tập hay sau một sự cố biến động nào đó mà có khả năng thấu suốt. Điển hình của việc sở hữu khả năng thiên nhãn do tu luyện và thiền tập có lẽ là những nhà Yoga và các Lạt ma Tây Tạng. Đây là sản phẩm phụ tâm linh trong sự phát triển tinh thần của các hành giả, được gọi là Siddhis. Các nhà Yoga có thể quan sát được các sự kiện diễn ra mà không phụ thuộc vào không gian hay thời gian: quá khứ, hiện tại hay tương lai. Họ được gọi là Trikalazna (người biết ba thời gian).



Tuy nhiên, khả năng của mỗi người là khác nhau tùy thuộc vào mức độ và thời gian tu tập. Những nghiên cứu mới đây cho thấy, khả năng thấu thị liên quan đến tuyến tùng (pineal gland), là một tuyến nội tiết nhỏ chỉ nặng khoảng 0,1g nằm trong hố yên ngựa bên cạnh tuyến yên. Tuyến tùng chủ yếu tiết ra Melatonin và Seratonin, nó có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự điều hòa nội tiết, chức năng miễn dịch và chu kỳ sinh học của con người và một số động vật. Người ta cũng nhận thấy hoạt động của tuyến tùng cũng ảnh hưởng đến tâm trí và sự hoạt động của con người. Tuyến tùng có tính nhạy cảm cao đối với cường độ ánh sáng. Vào ban đêm, lượng  melatonin tiết ra rất cao và seratonin thì rất thấp, làm cho cơ thể thư giãn và đi vào giấc ngủ. Quá trình này diễn ra ngược lại vào ban ngày, lượng melatonin giảm và seratonin tăng, tạo ra một trạng thái hưng phấn hoạt động không ngừng.



Trong trạng thái thiền định, việc sản xuất seratonin từ từ giảm dần và sản xuất melatonin tăng làm người ta sẽ dần cảm thấy trạng thái yên tĩnh trước khi bước vào trạng thái ý thức cao hơn, có thể cảm thấy sự yên lạc và ý thức được hòa đồng với vạn vật. Các nhà Yoga và các Lạt ma Tây tạng đã biết cách phát triển những tư thế (asana) và những phương pháp giúp người tu tập có thể điều khiển hay ảnh hưởng trực tiếp lên tuyến tùng (tương đương LX6) và vì vậy họ nhanh chóng đạt được ý thức tinh thần tinh tế hơn.



Mở LX6 không giúp thành nhà ngoại cảm



Ông Nguyễn Xuân Điều, Trưởng Bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh (Trung tâm Unesco - văn hóa, dòng họ và gia đình Việt Nam) cho hay, theo y học phương Đông, trên cơ thể con người có 365 huyệt, được sắp xếp trên 12 đường kinh và 2 mạch Nhâm và mạch Đốc. Bộ môn "Năng lượng sinh học" chỉ tập trung nghiên cứu 2 mạch "Nhâm và Đốc" vì trên hai mạch này có chứa những đại huyệt liên quan tới các bộ phận cơ bản trong cơ thể. Mạch Đốc (Đốc nghĩa là chỉ huy) có 28 đại huyệt. Năng lượng trao đổi của mạch Đốc gọi là "tiên thiên khí", "sinh khí" hay còn gọi là  "năng lượng vũ trụ".



Bình thường các năng lượng đó được tưới vào cơ thể qua các cửa ngõ là các đại huyệt mạch Đốc, nhưng không hiểu vì lý do gì các đại huyệt này (hay còn gọi là LX) thường bị ách tắc, người ta bị bệnh vì thiếu "tiên thiên khí". LX số 6 (LX6) thuộc mạch Đốc, ở vị trí "thiên mục" giữa trán. Đây là LX phụ trách về thần kinh, liên quan tới hoạt động của tuyến tùng, tuyến yên và hoạt động của tứ chi. LX6 còn gọi là "con mắt thứ ba" hay là "giác quan thứ 6". Mọi khả năng về thần giao cách cảm, linh cảm, đọc được suy nghĩ của người khác, di chuyển các đồ vật trong không gian... là nhờ LX6.



LX6 còn là vị trí để phân biệt giữa con người với các loài động vật khác. Việc mở LX6 (và các LX khác) thuộc mạch Đốc (nằm trong chương trình cơ bản của "Bộ môn Trường sinh học dưỡng sinh"), không thể biến người bình thường thành "nhà ngoại cảm" được. Nhờ tập luyện thiền, cơ thể người bệnh đang từ trạng thái hỗn loạn, trở về cân bằng, đẩy lui được bệnh tật. Tập thiền còn có tác dụng phòng bệnh, dưỡng sinh phục hồi sức khoẻ.



 Khai Luân xa 6 con mắt thứ 3 - VNT

Luân xa 6 không thể biến người bình thường thành "nhà ngoại cảm" được. 



Sự tiến hóa làm ẩn con mắt thứ 3



GS.TS Đoàn Xuân Mượu, nguyên Viện trưởng Viện Văcxin Việt Nam, tác giả bộ sách khoa học về thế giới tâm linh cho biết, sự tiến hóa của loài người cũng làm chúng ta không còn tiếp cận được đầy đủ với "trường thông tin toàn thể" như các chủng tộc người trước đây. GS.TS Y khoa, Giám đốc Trung tâm phẫu thuật tạo hình nhãn khoa (Nga) đã dùng máy scan quét khu vực mắt các đại diện của 35 chủng tộc người trên thế giới vào máy tính để phân tích tính toán các con số hình học nhãn khoa truy tìm nguồn gốc loài người. Để kiểm chứng, ông cũng tổ chức đoàn nghiên cứu tới Tây Tạng, Ấn Độ, Nêpan, kết hợp với mổ mắt và tiếp xúc với các đạo sư nổi tiếng để khai thác thông tin, gặp gỡ các nhân chứng sống, tận mắt chứng kiến những di chỉ và những cổ thư của các tôn giáo phương Đông và đối chiếu với sách của các nhà tiên tri.



Ông kết luận trong quá trình phát triển, tiến hóa loài người đã trải qua 5 chặng đường ứng với sự ra đời của 5 chủng tộc người. Theo đó, chủng tộc tự sinh là người không xương, không thịt nhẹ như gió thoảng, có thể đi xuyên qua tường và các chướng ngại vật, tự phát sáng, có một mắt, sinh sản vô tính và giao tiếp bằng truyền ý nghĩ. Chủng tộc thứ 2 cũng giống chủng tộc thứ nhất nhưng đặc hơn. Chủng tộc thứ ba, thể xác đặc, cơ xương, sinh sản hữu tính, mặt trước có hai mắt, mặt sau có một mắt gọi là "con mắt thứ 3" - là thị giác tinh thần để nhìn vào bên trong mình. Đến chủng tộc thứ 4 - Atlan con mắt thứ 3 tụt sâu vào đáy não. Đến chủng tộc thứ 5 - Arian là chủng tộc của chúng ta hiện nay, con mắt bị thoát hóa thành cơ quan thô sơ gọi là "tuyến tùng" tọa lạc ở phía trên tuyến yên ở đáy não. Nguyên nhân thoái hóa là vì chủng tộc Arian có ít tính chất tinh thần, ngày càng mang nhiều tính chất phàm tục. Tuy nhiên, theo nhà tiên tri E.Bakavatskaya, "ngày này chủng tộc Arian có khuynh hướng muốn phát triển trở lại "con mắt thứ ba" bằng kích thích nhân tạo, chẳng hạn tham thiền”.





Chức năng chính của con mắt thứ 3



- Thị giác bên trong tức là điều chỉnh sang tần số các trường xoắn của các cơ quan nội tạng, kết quả là có thể nhìn thấy các bộ phận cơ thể và các bệnh của chúng.



- Thị giác thiền định tức là điều chỉnh sang tần số các cấp độ khác nhau của trường xoắn của chính tâm hồn mình. Được biết có đến 112 kiểu thiền. Tất phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với tần số của mỗi kiểu.



- Thị giác thể trí tức là điều chỉnh sang các tần số của trường thông tin toàn thể - nhà ngoại cảm nắm bắt được những điều kỳ diệu...

Đăng bởi trung08:12