Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

Dùng thần nhãn để khám bệnh - chương 2

Filled under:

CHƯƠNG 2
DÙNG THẦN NHÃN ĐỂ KHÁM BỆNH


Thật là một điều lý thú khi biết rằng năng khiếu thần nhãn có thể giúp ta làm được những điều phi thường. Nhưng càng lý thú hơn nữa khi ta được biết rằng trong thời đại này có một người đã dùng năng khiếu thần nhãn một cách hữu ích trên địa hạt sưu tầm cũng như trên phương diện thực tế. Người ấy là ông Edgar Cayce. Trong những năm cuối đời ông Cayce, người ta gọi ông là “con người phi thường ở Virginia Beach”. Đó là một danh hiệu có phần cường điệu, vì tuy có hàng trăm người đã được ông chữa khỏi bệnh trong những điều kiện thật lạ lùng, nhưng ông không phải là một người làm “phép lạ”, hiểu theo ý nghĩa thông thường của từ ngữ này.

Không hề có chuyện đặt bàn tay truyền điện hay làm cho bệnh nhân quăng nạng gỗ sau khi sờ nhẹ vào vạt áo. Những sự “nhiệm mầu” của ông Cayce chỉ là sự khám đúng căn bệnh, mà thường là những bệnh nhân ở cách xa ông đến hàng ngàn cây số! Ngoài ra, năng khiếu thần nhãn của ông chỉ hoàn toàn khai mở trong giấc ngủ thôi miên, đó là một điều đáng được sự chú ý của những nhà chữa bệnh theo khoa tâm lý, thường dùng giấc ngủ thôi miên để chữa bệnh hoặc làm phương tiện nghiên cứu tiềm thức con người.

Một trong những thí dụ đáng kể nhất về cách xử dụng thần nhãn của ông Cayce là trong trường hợp sau đây:

Một người con gái ở Selma, thuộc tiểu bang Alabama, Hoa Kỳ, thình lình bị mất trí và được đưa vào một nhà thương điên. Người anh cô ta kinh hoảng, bèn nhờ cậy ông Cayce giúp đỡ. Ông Cayce nằm trên giường, thở vài hơi dài và sâu, đoạn ông ngủ thiếp đi. Kế đó, ông chịu sự dẫn dụ thôi miên của một người. Người đó bảo ông nhìn vào thể xác của người thiếu nữ và khám bệnh cho cô ấy. Sau một lúc im lặng, ông Cayce bắt đầu nói, cũng giống như bất kỳ người nào khác trong trạng thái thôi miên, khi nhận được yêu cầu của người dẫn dụ. Tuy nhiên, có điều khác hơn những người chịu thôi miên là ông Cayce bắt đầu diễn tả tình trạng thể chất của người bệnh, dường như cặp mắt ông có quang tuyến X. Ông cho biết rằng người con gái ấy có một cái răng cấm mọc ngược và ép vào một mạch máu thông lên bộ não. Ông bảo phải nhổ cái răng ấy để mạch máu kia được giải tỏa thì bệnh nhân sẽ trở lại trạng thái bình thường.

Theo sự chỉ dẫn đó của ông Cayce, người ta mới xem trong miệng người con gái thì thấy quả có một cái răng cấm mọc ngược. Sau khi được đưa đến nha sĩ để nhổ cái răng ấy đi thì người con gái liền hết bệnh điên.

Một thí dụ khác rất lạ lùng là: Có một thiếu phụ ở tỉnh Kentucky bên Hoa Kỳ sinh ra một đứa con thiếu tháng. Đứa trẻ ấy ốm đau èo uột luôn. Khi được bốn tháng, nó bị chứng động kinh rất nặng, đến nỗi ba vị bác sĩ săn sóc cho nó, trong đó có người cha của đứa trẻ, đều lo ngại rằng nó sẽ không qua khỏi ngày hôm ấy. Người mẹ đứa trẻ đã tuyệt vọng, bèn đến nhờ ông Cayce khám bệnh cho nó.

Sau khi rơi vào trạng thái thôi miên, ông Cayce bảo đem cho nó uống một liều thuốc belladona (atropine) và kèm theo sau đó, cho uống một loại thuốc trừ độc. Những vị bác sĩ khác đều phản đối cách chữa bệnh này, vì belladona là một loại thuốc cực độc. Nhưng bà mẹ đứa trẻ tin tưởng vào ông và nhất định tự mình đưa thuốc ấy cho con bà uống. Ngay tức khắc, chứng độngkinh dứt hẳn. Sau khi cho đứa trẻ uống thêm một liều thuốc trừ độc, đứa trẻ duỗi thẳng tay chân và ngủ một giấc ngon lành. Nó đã được cứu sống và khỏi bệnh.

Những thí dụ trên đây, cùng với hàng trăm thí dụ khác, không phải là những trường hợp chữa khỏi bệnh bằng “đức tin”. Những trường hợp mà người bệnh được chữa khỏi cấp thời như những trường hợp kể trên chỉ là một số ít. Trong hầu hết những trường hợp khác thì người bệnh được điều trị một cách cụ thể, có khi lâu dài, và cách điều trị gồm có thuốc men, phẫu thuật, kiêng cữ món ăn, dùng nhiều sinh tố, chữa trị bằng điện, xoa bóp hay tự kỷ ám thị.v..v... Người thực hiện các biện pháp điều trị đó là các bác sĩ chuyên khoa, còn ông Cayce chỉ đóng vai người chẩn đoán - theo cách của ông - và đưa ra các chỉ dẫn điều trị.

Những trường hợp khám bệnh bằng thần nhãn của ông Cayce đều được ghi chép trong những hồ sơ và được giữ gìn cẩn thận. Tất cả có đến ba chục ngàn hồ sơ được cất giữ ở Virginia Beach, và sẵn sàng được dùng làm tài liệu cho những ai muốn khảo cứu sưu tầm. Những hồ sơ đó gồm có những tờ biên bản ghi lại chi tiết các cuộc khám bệnh bằng thần nhãn, có ngày tháng rõ ràng; những thư thỉnh cầu của bệnh nhân ở xa hoặc của thân quyến người bệnh; những bức thư bày tỏ sự biết ơn của những bệnh nhân được chữa khỏi ở khắp nơi trên thế giới; những giấy chứng nhận của các bác sĩ; và những bản tốc ký chép lại lời nói của ông Cayce thốt ra trong trạng thái bị thôi miên.

Những tập hồ sơ này là một kho văn kiện và tài liệu vĩ đại để chứng minh sự thật về hiện tượng thần nhãn (clairvoyance).

Ông Cayce sinh năm 1877 tại Hopkinsville, miền tây nam của tiểu bang Kentucky, Hoa Kỳ. Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo và không được học hành đến nơi đến chốn. Ông theo học trường làng đến hết bậc tiểu học, và mặc dầu trong thuở thiếu thời, ông đã tỏ ý muốn trở nên một giáo sĩ, nhưng hoàn cảnh không cho phép ông tiếp tục theo đuổi sự học vấn.

Đời sống ở nông trại không thích hợp với ông; ông bèn chuyển đến sống ở tỉnh thành. Trước hết, ông làm nhân viên phụ trách một cửa hàng bán sách; sau đó ông làm nhân viên một hãng bảo hiểm.

Năm ông hai mươi mốt tuổi, một việc xảy đến bất ngờ làm thay đổi cuộc đời ông. Ông bị tắt tiếng nói vì một chứng bệnh yết hầu. Mọi sự chạy chữa đều vô hiệu quả, và không một vị bác sĩ nào có thể chữa cho ông khỏi bệnh. Do hậu quả này của căn bệnh, ông không thể tiếp tục hành nghề nhân viên bảo hiểm, ông bèn trở về nhà cha mẹ.

Ông sống ở đó gần một năm, không có việc gì làm cả và chứng bệnh của ông dường như không còn hy vọng chạy chữa. Sau cùng, ông quyết định theo học nghề chụp ảnh, vì nghề này không cần phải dùng đến giọng nói.

Trong khi ông đang tập sự nghề chụp ảnh, một nhà thôi miên đạo diễn tên là Hart đi ngang qua Hopkinsville và biểu diễn tại hí viện của thành phố. Nhà thôi miên Hart khi nghe nói ông Cayce bị chứng bệnh tắt tiếng, liền đề nghị chữa bệnh cho ông bằng khoa thôi miên.

Ông Cayce vui vẻ nhận lời. Trong trạng thái thôi miên, ông Cayce tuân theo mệnh lệnh của ông Hart và nói chuyện được như bình thường, nhưng khi vừa thức tỉnh thì ông lại bị tắt tiếng như trước.

Trong những giấc thôi miên kế đó, nhà thôi miên bèn dẫn dụ cho ông nghe rằng sau khi thức tỉnh, ông sẽ có thể nói chuyện được như thường. Phương pháp này gọi là “ám thị thôi miên”, tuy rằng rất hiệu nghiệm và đã từng giúp nhiều người thắng được những thói quen xấu như hút thuốc quá độ chẳng hạn, nhưng lại không có kết quả đối với chứng bệnh của ông Cayce.

Vì ông Hart phải chuyển sang một tỉnh khác theo chương trình đã định nên không thể tiếp tục những cuộcchữa trị thử nghiệm với ông Cayce được nữa, nhưng có một người tên là Layne ở cùng một địa phương, đã theo dõi cuộc chữa bệnh cho ông Cayce một cách thích thú, liền đề nghị ông Cayce để cho ông ta thử điều trị.

Ông Cayce vì muốn được khỏi bệnh bằng bất cứ phương pháp điều trị nào, liền chấp nhận. Ông Layne mới nảy ra một sáng kiến mới, là dẫn dụ cho ông Cayce trong trạng thái thôi miên, hãy tự diễn tả căn bệnh của mình. Thật lạ thay, ông Cayce tuân theo lời dẫn dụ đó và mô tả về căn bệnh của chính mình. Bằng một giọng nói bình thường, trong khi ông chịu sự dẫn dụ thôi miên của ông Layne, ông Cayce bắt đầu diễn tả trạng thái của những sợi dây thanh trong cuống họng của ông. Ông nói:

- A! Chúng ta có thể nhìn thấy cái thể xác này! Vào lúc bình thường, nó không thể nói được vì những cơ thịt dưới cuống họng bị liệt bại một phần, do một sự căng thẳng thần kinh gây nên. Chứng bệnh này nguyên nhân là do một trạng thái tâm lý gây ra và ảnh hưởng đến phần thể chất. Muốn chữa hết bệnh, phải dùng cách dẫn dụ để làm vận chuyển sự lưu thông máu huyết ở bộ phận bị đau, trong khi người bệnh còn nằm trong trạng thái thôi miên.

Ông Layne liền dẫn dụ cho ông Cayce rằng sự lưu thông máu huyết của ông sẽ tăng thêm một cách mạnh mẽ ở chỗ cuống họng bị đau và bệnh trạng của ông sẽ thuyên giảm. Dần dần, phần trên của bộ ngực và cuống họng của ông Cayce thay đổi màu sắc, chuyển từ màu hồng nhạt sang màu đỏ thắm. Sau đó hai mươi phút, vẫn trong trạng thái thôi miên, ông Cayce ho lên mấy tiếng để lấy giọng và nói:

- Tốt lắm, căn bệnh đã dứt. Ông hãy dẫn dụ rằng sự lưu thông máu huyết sẽ trở lại bình thường và thể xác này hãy thức tỉnh.

Ông Layne liền làm y theo lời. Ông Cayce thức tỉnh và nói chuyện bình thường lần đầu tiên kể từ hơn một năm qua.

Trong những tháng sau đó, thỉnh thoảng căn bệnh lại tái phát đôi lần. Mỗi lần như thế, ông Layne lại dẫn dụ bằng cách thôi miên cho máu huyết lưu thông nơi cuống họng, và chứng bệnh lại dứt.

Câu chuyện của ông Cayce có lẽ đã chấm dứt với bấy nhiêu đó, nếu ông Layne không nhìn thấy những triển vọng sâu xa của trường hợp đặc biệt này, và tìm cách khai thác trên địa hạt thực tế. Lịch sử của khoa thôi miên là điều quen thuộc đối với ông và ông đã từng biết những trường hợp tương tự đặt dưới sự điều trị của ông De Puysegur ở Pháp. Ông này là vị kế nghiệp cho bác sĩ Mesmer,7 người đã khám phá ra khoa nhân điện học.

Ông Layne nghĩ rằng, nếu ông Cayce có thể nhìn thấy xác thể của mình và tự khám bệnh lấy, thì điều tất nhiên là ông ấy sẽ có thể nhìn thấy thể xác của những người khác và khám bệnh cho họ.

Ông Layne bèn thí nghiệm điều này với chính ông, vì trong thời gian gần đó ông đang bị chứng đau dạ dày.

Cuộc thí nghiệm đã thành công mỹ mãn. Trong trạng thái thôi miên, ông Cayce mô tả trạng thái bên trong cơ thể ông Layne và đề nghị một vài phép điều trị. Ông Layne lấy làm vui mừng vô hạn, sự khám nghiệm của ông Cayce hoàn toàn đúng với những triệu chứng mà chính ông cũng đã nhận thấy và cũng phù hợp với sự khám nghiệm của nhiều vị bác sĩ khác. Cách điều trị của ông Cayce đưa ra gồm có việc áp dụng chế độ ăn uống thích hợp, kiêng cữ một số món ăn, sử dụng thuốc men và những phép tập thể dục chưa từng đem áp dụng cho trường hợp của ông từ trước. Ông Layne bèn áp dụng theo cách điều trị ấy và chỉ trong vòng ba tuần ông nhận thấy rằng bệnh trạng của ông đã thuyên giảm rất nhiều.

Những sự kiện trên đây làm cho ông Cayce lưỡng lự phân vân không ít. Nhưng ông Layne lấy làm vô cùng hứng khởi và quyết định thử xem phép điều trị này có thể chữa khỏi bệnh cho những người khác hay không?

Hồi mới lên mười tuổi, ông Cayce đã bắt đầu đọc bộ Kinh Thánh (Bible) và đọc đi đọc lại hằng năm từ đầu đến cuối bộ sách ấy. Ông có ý nghĩ muốn trở nên một nhà chữa bệnh để cứu giúp các bệnh nhân đau khổ, cũng như các vị môn đồ của đấng Christ xưa kia. Về sau, ông có tham vọng trở nên một nhà truyền giáo như đã nói ở trên, nhưng hoàn cảnh của ông đã không cho phép. Và đến bây giờ thình lình ông nhận thấy cơ hội làm thầy chữa bệnh cho thiên hạ tự nhiên xuất hiện với ông. Nhưng ông còn băn khoăn lo ngại không dám nắm lấy cơ hội ấy, vì ông sợ rằng nếu trong trạng thái thôi miên ông lỡ nói một điều gì có hại và nguy hiểm cho tánh mạng kẻ khác thì sao?

Nhưng ông Layne liền bảo đảm rằng ông đừng sợ gì cả; chính ông Layne đã có hiểu biết khá nhiều về y học để có thể ngăn chặn những phép điều trị nào xét ra có hại cho bệnh nhân.

Ông Cayce bèn suy nghĩ rất lâu để quyết định một đường lối hành động. Sau cùng, ông bằng lòng giúp đỡ cho những người bệnh nào muốn được điều trị theo phương pháp của ông, nhưng ông nói trước một cách dứt khoát rằng đó chỉ là những cuộc thí nghiệm, và ông không đòi hỏi tiền thù lao chi cả.

Kế đó, ông Layne mới bắt đầu chép bằng tốc ký những lời mà ông Cayce thốt ra trong trạng thái thôi miên và gọi đó là biên bản, hay phúc trình những cuộc “Khám bệnh bằng thần nhãn”.

Điều rất lạ lùng trong những cuộc khám bệnh của ông Cayce, được thực hiện ngoài những giờ hành nghề nhiếp ảnh, là ông đã dùng những danh từ rất chuẩn xác về khoa sinh lý học và cơ thể học, mặc dầu trong lúc thức tỉnh ông không hề biết một chút gì về ngành y học và cũng không hề đọc các sách về y khoa. Điều càng lạ lùng hơn nữa đối với ông Cayce là những bệnh nhân do ông điều trị đều được thuyên giảm rất nhiều. Trường hợp của ông Layne không đủ thuyết phục ông, vì ông cho rằng có lẽ sự tưởng tượng đã làm cho ông Layne tưởng rằng mình khỏi bệnh. Về phần ông Cayce, việc ông đã thu hồi lại được giọng nói không thể cho là sự tưởng tượng, nhưng đó có thể chỉ là một sự ngẫu nhiên tình cờ.

Những sự nghi ngờ đó luôn ám ảnh ông trong những năm đầu khi ông mới bắt tay vào việc khám bệnh bằng thần nhãn, đã dần dần được giải tỏa trước sự kiện hiển nhiên là những bệnh nhân do ông điều trị đều được khỏi bệnh, thậm chí đến cả những trường hợp được xem là nan y và vô phương cứu chữa.

Dần dần, khả năng khám bệnh phi thường của ông Cayce được đồn đãi ra khắp mọi nơi. Một ngày kia, ông nhận được điện thoại của vị cựu Thanh tra Giáo dục thành phố Hopkinsville, mời ông đến chữa cho cô con gái của ông ta mới lên năm tuổi và đau ốm đã ba năm nay.

Bé gái này bị chứng cảm cúm vào năm hai tuổi và từ đó đến nay bị mất trí khôn. Những vị bác sĩ chuyên môn mà cha mẹ em đã mời đến khám bệnh cho em đều bó tay, không làm sao cứu em khỏi bệnh. Gần đây, em lại bị chứng động kinh ngày càng dữ dội thêm, và một vị bác sĩ chuyên môn đã tuyên bố rằng đó là một chứng bệnh thuộc về bộ não, không thể chữa khỏi.

Cha mẹ em đã tuyệt vọng, và đưa em về nhà để chờ ngày em trút hơi thở cuối cùng. Khi đó, một người bạn mới nói chuyện với cha mẹ em về ông Cayce và năng lực nhiệm mầu của ông. Khi ông Cayce nghe nói về trường hợp của cô gái nhỏ này, ông bằng lòng đi đến tận nơi để khám bệnh cho em ấy. Vì tình hình tài chánh của ông không được dồi dào lắm, nên ông phải nhận tiền lộ phí của gia đình bệnh nhân cung cấp. Đó là lần đầu tiên mà ông nhận một món tiền về công việc chữa bệnh để giúp đỡ kẻ khác.

Ông bèn lên đường, tuy rằng với một sự băn khoăn khó nghĩ trong lòng. Khi cô gái nhỏ được đưa đến trước mặt ông, ông càng cảm thấy một cách thấm thía sự mỉa mai cái vai trò của ông, một kẻ xuất thân từ gia đình nông dân tầm thường và không biết một chút gì về y học lại dám tự hào có thể chạy chữa cho một đứa trẻ mà những nhà chuyên môn giỏi nhất trong ngành y khoa đã phải bó tay không chữa nổi!

Ông cảm thấy hơi run rẩy khi ông nằm trên chiếc sofa trong phòng khách nhà ông thanh tra, và ngủ thiếp đi. Tuy nhiên, trong giấc ngủ thôi miên đó, ông không còn băn khoăn nghi ngại về chính mình nữa. Ông Layne có mặt ở một bên để dẫn dụ cho ông, và ghi chép bằng tốc ký những lời ông thốt ra như thường lệ.

Với một sự bình tĩnh và tự tin mà ông vẫn thường biểu lộ trong những cuộc khám bệnh trước đây, ông Cayce bắt đầu mô tả bệnh trạng của đứa trẻ. Ông cho biết rằng trước khi bị cảm cúm, em bé ấy đã bị té ngã từ trong xe văng xuống đất, và vi trùng bệnh cúm đã xâm nhập vào chỗ thương tích do tai nạn gây ra, điều này gây nên chứng động kinh. Ông cho biết thêm rằng, sự điều trị thích nghi bằng phép nắn xương sẽ có thể làm giảm bớt áp lực và giúp cho em nhỏ được bình phục trở lại như thường.

Bà mẹ em bé xác nhận việc em bị ngã từ trong xe văng ra ngoài, nhưng vì không thấy có thương tích, nên bà không hề nghĩ rằng việc ngã xe lại có ảnh hưởng đến bệnh trạng của em bây giờ.

Ông Layne bèn áp dụng cách điều trị cho em theo lời dặn của ông Cayce và trong vòng ba tuần, em nhỏ đã hết chứng động kinh. Tình trạng trí não của em cũng khá hơn nhiều: em nói được tên của con búp bê, món đồ chơi thích nhất của em mà em vẫn chơi trước khi bị bệnh; sau đó em gọi tên của cha em và mẹ em lần đầu tiên kể từ nhiều năm nay.

Sau ba tháng, hai ông bà chủ nhà tuyên bố rằng cô con gái nhỏ của họ đã hoàn toàn bình phục và đang cố gắng vớt vát lại thời gian đã mất trong những năm đen tối vừa qua.

Những sự việc xảy ra như trường hợp này đã đem đến cho ông Cayce một niềm tin rằng ông không hề sai lầm khi đem sử dụng khả năng lạ lùng của ông để giúp đỡ thế gian.

Danh tiếng của ông ngày càng lan xa. Báo giới đã bắt đầu quan tâm và đến phỏng vấn rồi đưa tin về ông. Kể từ đó, hằng ngày ông đều nhận được những cú điện thoại và điện tín của những bệnh nhân tuyệt vọng khẩn cầu ông chữa bệnh cho họ. Chính vì nhu cầu khám bệnh ngày càng mở rộng mà ông đã bắt đầu thử nghiệm rồi nhận thấy rằng mình có thể khám bệnh xuyên qua không gian, khi ở cách xa bệnh nhân đến hàng mấy trăm dặm đường, miễn là trong khi đi vào trạng thái thôi miên có người nói cho ông biết tên tuổi và địa chỉ rõ ràng của bệnh nhân.

Ông Cayce thường bắt đầu các cuộc khám bệnh từ xa bằng vài lời bình phẩm về thời tiết và hoàn cảnh địa phương nơi bệnh nhân ở, với một giọng nói thì thầm đại khái như:

- Ở đây sáng nay gió thổi mạnh quá!

- Đây là Winthertur ở Thụy Sĩ. À! Con sông này đẹp quá!

- Ồ! Người ấy đang đi, ông ta đi thang máy để đi xuống lầu!

- À! Những bộ áo pyjama này đẹp quá!

- A! Bà mẹ đang cầu nguyện ở phòng bên! v.v... Những sự mô tả đó về sau luôn được xác nhận là đúng, lại càng giúp một bằng chứng xác thực về năng khiếu thần nhãn của ông Cayce.

Dầu rằng bệnh nhân ở cách xa hay ở gần một bên ông trong cùng một gian phòng, thì ông cũng dùng một phương pháp giống nhau không có gì thay đổi. Ông chỉ cần cởi giày, lên nằm trên giường một cách hoàn toàn thoải mái và nghỉ ngơi. Qua nhiều lần thực nghiệm, ông nhận thấy rằng cần phải nằm quay đầu về hướng bắc, chân về hướng nam. Ngoài một chỗ nằm và một cái gối dưới đầu, ông không cần dùng thêm một món gì khác!

Những cuộc khám bệnh có thể diễn ra ban ngày cũng như ban đêm, và bóng tối hay ánh sáng đều không có ảnh hưởng gì khác nhau. Vài phút sau khi nằm yên chỗ, ông liền ngủ thiếp đi. Khi đó, ông Layne, hoặc đôi khi là vợ ông Cayce, hoặc bất kỳ một người nào khác mà ông tin cậy và giao phó trách nhiệm này, mới đưa ra cho ông những lời dẫn dụ thích nghi. Câu dẫn dụ thông thường là:

- Bây giờ, ông sẽ thấy trước mặt ông (tên họ người bệnh), ở tại (địa chỉ tên đường, thành phố, xứ..) Ông sẽ khám nghiệm thân thể người ấy một cách chăm chú và cẩn thận, và ông sẽ nói cho tôi biết bệnh trạng cùng nguyên nhân của chứng bệnh là như thế nào. Ông cũng sẽ nói cách điều trị ra sao để chữa bệnh cho người ấy. Và ông sẽ đáp lại những câu hỏi của tôi đưa ra...

Vài phút sau, ông Cayce bắt đầu nói, và ông Layne hoặc cô thư ký Gladys Davis ghi chép lại bằng tốc ký những lời nói của ông. Sau đó, bản chép tốc ký được đem đánh máy lại rõ ràng để lưu giữ. Trong phần nhiều trường hợp, một bản sao được trao cho người bệnh hoặc thân nhân, hoặc người đỡ đầu hay vị bác sĩ điều trị, còn một bản sao bằng giấy màu vàng thì được lưu giữ trong hồ sơ về bệnh nhân.

Lời đồn đãi truyền khẩu và những bài tường thuật trên báo chí về năng khiếu thần nhãn của ông Cayce không bao lâu đã hấp dẫn sự chú ý của những tay thương gia có óc trục lợi. Một nhà buôn lớn trong ngành bông vải đề nghị trả cho ông Cayce mỗi ngày một trăm đô-la, liên tiếp trong hai tuần để nhờ ông “xem” giá thị trường bông vải hằng ngày. Mặc dầu lúc ấy ông đang cần tiền, nhưng ông vẫn dứt khoát từ chối. Có những người khác muốn nhờ ông chỉ giùm những chỗ chôn giấu kho tàng, hoặc cho biết con ngựa nào về nhất trong một cuộc đua để họ đặt cược trúng giải.

Có nhiều lần, ông Cayce đã chịu nghe theo lời thiên hạ thỉnh cầu và làm thử những chuyện kể trên để rút kinh nghiệm và cũng để xem kết quả ra sao. Nhiều lần ông đã thành công và nói đúng kết quả của những cuộc đua cá ngựa; nhưng cũng có nhiều lần ông nói sai! Và những lần như thế, sau khi thức tỉnh ông luôn cảm thấy mệt mỏi, bực dọc và bất mãn về mình!

Có một lần, người ta thuyết phục được ông hãy thử thời vận và dùng thần nhãn để khám phá các mỏ dầu hỏa ở tiểu bang Texas, nhưng ông không thu được kết quả gì đáng kể và đã hoàn toàn thất bại!

Sau cùng, ông nhận thấy rằng ông chỉ có thể sử dụng năng khiếu thần nhãn của mình một cách hữu hiệu và chắc chắn vào mục đích chữa bệnh cho nhân loại, và chỉ vì mục đích duy nhất đó mà thôi chứ không bao giờ nên dùng thần nhãn để giúp cho ai hay cho chính mình trong việc kiếm tiền và sinh lợi! Thậm chí đến những sự quảng cáo ồ ạt để cầu danh, ông cũng đều dửng dưng không quan tâm đến.

Năm 1922, ông Chủ bút tờ báo Denver Post nghe tiếng ông Cayce và đã mời ông đến Denver. Sau khi đã dự kiến một buổi khám bệnh có kết quả hiển nhiên, ông ta liền đề nghị với ông Cayce một việc sau đây:

Ông ta sẽ trả cho ông Cayce mỗi ngày một ngàn đô- la và tự mình đảm nhiệm công việc tổ chức những cuộc trình diễn lưu động trong khắp nước, nếu ông Cayce bằng lòng đổi tên họ và khoác lấy một cái tên Ấn Độ, ăn mặc và bịt khăn theo lối Đông phương, và khám bệnh trong trạng thái thôi miên sau một tấm màn che khuất để tránh những cặp mắt tò mò.

Nhưng ông Cayce quyết liệt từ chối.

Ông David Kahn, Giám Đốc Công ty Vô tuyến truyền hình ở Brunswich, và là bạn cũ của ông Cayce, trong những cuộc nói chuyện riêng tư, đã quảng cáo về việc làm của ông Cayce trong các giới bạn bè và các giới kinh doanh thương mãi; nhưng khi ông đề nghị mở một chương trình quảng cáo đại qui mô về công việc của ông Cayce trên đài truyền hình thì ông Cayce liền từ chối một cách quyết liệt.

Trong cuộc đời ông, ông không bao giờ chấp nhận cho ai làm bất cứ một sự quảng cáo nào về sự khám bệnh hay về những cuộc diễn thuyết công cộng của ông. Trong các cuộc đàm thoại với những người không được biết ông nhiều, ông không bao giờ nói về năng khiếu đặc biệt của mình, nếu người ta không hỏi ông về vấn đề đó. Có nhiều người ở cùng một tỉnh nhưng không hề biết gì về ông, ngoài việc ông làm nghề nhiếp ảnh. Ông sống với một niềm tin tưởng chắc chắn rằng ông chỉ là một công cụ để giúp đỡ và đem lại sức khỏe cho những kẻ ốm đau khổ sở, và ông không bao giờ nên làm cho thiên hạ chú ý đến mình.

Trong những năm đầu, ông Cayce vẫn tiếp tục hành nghề nhiếp ảnh, và luôn từ chối không nhận tiền thù lao về những cuộc khám bệnh của ông. Về sau, khi số người bệnh đến nhờ ông chạy chữa càng ngày càng đông, làm cho ông không thể nào tiếp tục hành nghề nhiếp ảnh được nữa, ông mới thấy mình có lý do để nhận tiền thù lao, vì ông còn phải đùm bọc và nuôi dưỡng gia đình. Tuy thế, đối với những người nghèo không đủ sức trả tiền, ông vẫn khám bệnh không lấy tiền.

Không bao giờ ông Cayce đòi hỏi hoặc bắt buộc bệnh nhân phải trả tiền thù lao. Những bản sao các thư từ của ông hiện còn được cất giữ trong các tập hồ sơ ở Virginia Beach, nơi ông đến cư ngụ từ năm 1927, là những bằng chứng hùng biện cho lòng hy sinh, vô kỷ của ông. Mặc dầu trong những bức văn thư ấy có rất nhiều sự thiếu sót về văn phạm, cách chấm câu và cách hành văn, nhưng nó biểu lộ một cách sâu xa lòng mong muốn giúp đỡ và làm giảm bớt những nỗi đau khổ của nhân loại.

Trong những năm đầu tiên thực hiện việc khám bệnh, ông Cayce luôn luôn bị giày vò bởi sự hoài nghi. Có đôi khi, trong những cuộc khám bệnh, ông Cayce lặng thinh không nói gì trong giấc ngủ thôi miên. Có lẽ trong những lúc đó, năng khiếu thần nhãn của ông bị ảnh hưởng bởi tình trạng sức khỏe hoặc trạng thái bất an của tâm hồn. Mặc dầu lúc thường, ông là một người dịu dàng và hiền lành, nhưng ông cũng có những lúc nóng giận thình lình; và hoàn cảnh gia đình buộc phải có nhiều lo âu về tài chánh. Một tâm trạng như thế lẽ tất nhiên là có thể làm tê liệt mất năng khiếu của ông.

Trong những trường hợp khám bệnh không có kết quả, người ta phải đình lại một lúc khác để đợi cho tình trạng sức khỏe và tâm lý của ông được bình phục trở lại, khi đó cuộc khám bệnh sẽ đem lại kết quả mong muốn.

Nhưng ông Cayce cũng bị xúc động một cách sâu xa nếu có bệnh nhân nào tỏ vẻ bất mãn vì cuộc khám bệnh không nói đúng theo bệnh trạng của họ, hoặc sự điều trị không có hiệu quả như họ mong muốn. Trong những trường hợp đó, ông Cayce xin lỗi một cách rất khiêm tốn trong những bức thơ dài, và giải thích rằng ông không hề tự hào là thần y có thể chữa khỏi bá bệnh; rằng có một phần chi tiết mà ông không được biết rõ, điều này làm cho những cuộc khám bệnh của ông trở nên kém hiệu lực và bất toàn; và đôi khi ông không nhìn thấy được rõ ràng mọi sự, như một cái máy thu thanh bắt sóng cũng có khi mạnh khi yếu, chứ không phải lúc nào cũng cho âm thanh một cách hoàn hảo. Và cuối thơ, ông kết luận:

- Mục đích duy nhất của chúng tôi là giúp đỡ ông. Nếu tôi đã thất bại, thì tôi xin vui lòng trả tiền lại cho ông.

Ông gửi kèm theo trong thơ một ngân phiếu hoàn nguyên số tiền mà ông đã nhận được cho vị thân chủ.

Thỉnh thoảng, sau nhiều tháng, chính những người thân chủ đó trở lại cho ông hay rằng một cuộc khám bệnh riêng về sau đã xác nhận những gì ông đã nói từ lúc đầu, mà họ đã nghi ngờ là không đúng như bệnh trạng của họ.

Cũng có đôi khi ông Cayce nhận thấy rằng những bệnh nhân đã than phiền về sự chữa bệnh không lành, chỉ vì họ đã cẩu thả không chịu áp dụng đúng theo cách điều trị của ông đưa ra, chẳng hạn như họ quên ăn uống kiêng cữ, hoặc không chịu uống thuốc đúng liều, hoặc xao lãng về phần tu dưỡng tinh thần mà ông đã bắt buộc họ phải noi theo.

Dầu sao ông cũng biết rằng những cuộc khám bệnh của ông không phải là tuyệt đối chính xác trong mọi trường hợp. Nhưng với thời gian qua, những cuộc khám bệnh của ông càng ngày càng trở nên rõ ràng và đúng đắn hơn trước, vì kinh nghiệm đã giúp cho ông biết cách sử dụng năng khiếu một cách hữu hiệu hơn. Những sự thất bại hoặc sai biệt xảy ra một đôi khi đã được bù đắp bởi những sự chữa lành bệnh một cách mầu nhiệm.

Một vị linh mục Thiên Chúa giáo người Canada đã được chữa khỏi bệnh động kinh; một người học trò trường tỉnh ở Dayton thuộc tiểu bang Ohio đã được chữa khỏi bệnh đau khớp xương; ở New York, một viên nha sĩ đã được chữa khỏi trong hai tuần chứng bệnh nhức đầu kinh niên đã trải qua nhiều năm; một thiếu niên ở Philadelphia mắc chứng bệnh đau mắt có cườm, là một chứng bệnh được xem là nan y, đã được bình phục khi một vị bác sĩ chữa trị theo lời chỉ thị của ông Cayce.

Chính những trường hợp chữa khỏi bệnh kể trên đã xảy ra rất nhiều lần làm cho ông Cayce bình nhật vốn là một người khiêm tốn, do dự, và cẩn thận rất mực, đã phải tin tưởng vào năng khiếu của chính ông, mặc dầu thỉnh thoảng vẫn có những sự khó khăn và một vài sai biệt nhỏ nhặt không đáng kể; và ông có thể tin rằng đó là một cái thiên tư đặc biệt của trời phú cho ông.

Năm 1942, do báo chí đua nhau nói về thân thế và sự nghiệp của ông Cayce, tên tuổi của ông đã vang dội khắp nơi ở Hoa Kỳ. Kết quả là có hàng triệu bức thư của người khắp bốn phương được gởi đến nhờ ông chữa bệnh, trong số đó có nhiều trường hợp rất đau thương và vô cùng khẩn cấp.

Ông Cayce không bao giờ từ chối việc chạy chữa cho một bệnh nhân nào và không bao giờ ruồng bỏ một ai, đành phải định ngày khám bệnh cho từng người, và có người phải được ông hẹn trước đến mười tám tháng mới đến phiên khám bệnh.

Thay vì chỉ khám bệnh hai hay ba lần trong mỗi ngày, có khi ông đã khám bệnh đến tám lần, bốn lần vào buổi sáng và bốn lần vào buổi chiều. Làm việc trong giấc ngủ có vẻ dường như là một công việc thoải mái dễ dàng, nhưng sự thật ông Cayce đã phải mất rất nhiều sinh lực và sự căng thẳng gây nên bởi sự làm việc quá sức đó đã ảnh hưởng đến sức khỏe của ông: Ông từ trần vào ngày 3 tháng giêng năm 1945, hưởng thọ sáu mươi bảy tuổi.

Cuộc đời của ông Edgar Cayce đã chấm dứt, nhưng danh tiếng của ông không bao giờ mất. Nếu một người trở nên bất tử và lưu danh thiên cổ do những công trình phụng sự nhân loại thì người ta có thể nói rằng ông Cayce đã trở nên bất tử theo cách đó.

Đăng bởi trung23:29

Những bí ẩn cuộc đời - Sách

Giới thiệu sách


NGUYỄN HỮU KIỆT dịch



NGUYỄN MINH TIẾN hiệu đính







TSÁCH HUYN MÔN



NHỮNG BÍ ẨN
CUỘC ĐỜI

Theo tài liệu Many Mansions (1950)



của Gina Cerminara

LỜI GIỚI THIỆU


Trải qua dòng lịch sử, nhân loại đã thực hiện được nhiều kỳ công vĩ đại, nhưng con người vẫn phải bóp trán suy nghĩ để tìm hiểu ý nghĩa và nguyên nhân của sự đau khổ diễn ra từ khi chào đời cho đến lúc xuống mồ. Con người vẫn luôn hy vọng có một ngày nào đó sẽ tìm ra được những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn và khó khăn trong bài toán về cuộc đời. Tuy nhiên, cho đến nay thì việc dựa vào những thành tựu của khoa học để làm được điều này vẫn còn là điều quá xa xôi, trong khi nhiều hiện tượng mà khoa học hoàn toàn không giải thích được lại có vẻ như đang mang đến cho con người những đáp án mà họ mong đợi.

Ông Edgar Cayce là một trong số những hiện tượng như thế. Không ai có thể giải thích được vì sao ông lại có được những giác quan thần bí và có thể sử dụng những khả năng đó vào nhiều mục đích vô cùng thực tế. Thông qua sự nhận biết và trình bày của ông, những định luật về luân hồi và nhân quả, mà từ trước đến nay vẫn bị nhiều người xem như những điều mơ hồ khó hiểu và không thể chứng minh cụ thể, thì nay có vẻ như đã được giải thích một cách rất rõ ràng.

Tường thuật những câu chuyện về ông Edgar Cayce trong tập sách này, chúng tôi không có ý khẳng định một điều gì, mà chỉ hy vọng sẽ mang đến cho độc giả những giây phút giải trí thư giãn và đồng thời cũng có đôi điều suy gẫm để làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN

CHƯƠNG 1
MỘT TRIỂN VỌNG ĐÁNG MỪNG


Một nhà hiền triết đã mô tả về ý nghĩa của một đời người chỉ trong một câu ngắn gọn: “Con người sinh ra chỉ để đau khổ và cuối cùng chết đi.”

Nói về sự đau khổ của cuộc đời, ngày nay hẳn không còn ai phải hoài nghi hay tranh cãi. Người ta thường chỉ không đồng ý với nhau trong việc nhận định về những đau khổ đó và nên đối phó với chúng như thế nào mà thôi.

Cách đây hơn 25 thế kỷ, người đầu tiên đã nhận thức và mô tả hết sức cụ thể về những đau khổ của đời người là một người Ấn Độ. Ngài đã chỉ rõ mọi nguyên nhân cội nguồn của đau khổ và vạch ra con đường thoát khổ, được hàng triệu triệu người trên khắp thế giới noi theo từ đó đến nay và mỗi người đều đạt được những sự lợi ích tinh thần nhất định, từ những phút giây thanh thản trong đời sống thường nhật cho đến những trạng thái giải thoát toàn diện thoát khỏi mọi khổ đau.

Lịch sử ghi nhận sự kiện đản sinh của bậc vĩ nhân đó với tên gọi Thái Tử Sĩ Đạt Ta, và về sau được tôn xưng là Đức Phật, với ý nghĩa là bậc Toàn Giác.

Phụ vương của Sĩ Đạt Ta là một vị vua có thế lực lớn ở miền Bắc Ấn Độ thời đó. Người quyết định truyền ngôi cho thái tử nên đã giữ chặt thái tử trong cung, không cho thái tử nhìn thấy những cảnh lầm than, đau khổ của người đời.

Thái Tử sống từ nhỏ trong cung cấm. Đến lúc trưởng thành, vua cha cưới cho thái tử một vị công chúa nhan sắc tuyệt trần. Từ nhỏ đến lớn, thái tử chưa hề bước chân ra khỏi bốn vách thành bao bọc quanh hoàng cung. Khi thái tử có được một hoàng nam, người thấy nhàm chán cảnh cung điện và muốn biết có những gì ở cuộc sống bên ngoài cung điện. Người mới xin phép vua cha xuất thành du ngoạn. Lần đầu tiên thái tử được nhìn thấy cảnh thành phố tấp nập, dân cư đông đảo và đời sống thực tế bên ngoài cung điện.

Sau khi du ngoạn bên ngoài bốn cửa thành, thái tử nhìn thấy những cảnh tượng làm cho người chú ý. Đó là cảnh một người già, một người bệnh tật và một xác chết. Thái tử lần đầu tiên thấy được những cảnh này, vô cùng xúc động, bèn hỏi tên đánh xe đi theo ngài: “Tại sao lại có những cảnh đau khổ như thế?”

Khi được biết rằng đó là những điều vẫn xảy ra với tất cả mọi người, không ai tránh khỏi, Thái tử vô cùng buồn bực, đến nỗi Ngài không còn ham thích gì cuộc sống xa hoa.

Khi trở về cung, ngài bắt đầu nuôi ý định xuất ly, từ bỏ tất cả mọi sản nghiệp, gia đình vợ con để xuất gia tầm đạo, tìm một phương cách để cứu vớt nhân loại và chúng sinh thoát khỏi sự lầm than đau khổ.

Ý nguyện của ngài không được sự chuẩn thuận của vua cha. Vì thế, ngài đã phải đang đêm vượt thành để ra đi tầm đạo. Sau nhiều năm khổ công tìm kiếm và tu tập, tham thiền quán tưởng, ngài đạt được trạng thái giác ngộ, trở thành một bậc toàn trí toàn giác, xứng đáng với danh hiệu Phật-đà, nghĩa là Bậc tỉnh giác. Sau đó ngài mới truyền dạy đạo giải thoát cho thế gian, chỉ cho tất cả mọi người thấy được con đường thoát khổ.

Chúng ta là những người trần gian phàm tục, không ai có thể làm giống như đức Phật Thích Ca, nghĩa là nhất thời dứt bỏ tất cả sự giàu sang, quyền thế, danh vọng, tình yêu và hạnh phúc gia đình để theo đuổi một mục đích quá cao xa như việc đi tìm chân lý và tìm hiểu ý nghĩa chân thật nhất của cuộc đời! Tuy nhiên, mỗi người trong chúng ta đều phải trải qua những hình thức khổ đau nhất định trong cuộc đời mình và hẳn đã có lúc phải tự hỏi:

- Tại sao con người phải chịu đau khổ? Và ta có thể làm gì để thoát khổ?

Cách giải thích về những “tội lỗi bẩm sinh” mà con người phải nhận lấy ngay từ lúc sinh ra dường như không thuyết phục đối với nhiều người. Họ thấy không có lý do gì để người ta phải chịu đựng khổ đau chỉ vì những điều mà họ hoàn toàn không tự mình thực hiện! Nhưng nếu cho rằng có những điều chính ta đã thực hiện trong quá khứ để dẫn đến sự khổ hiện nay nhưng ta hoàn toàn không nhớ biết chỉ vì si mê thì nhiều người cũng không tin nhận được, vì họ cho rằng không có sự chứng minh cụ thể nào cả!

Những nhà văn có óc không tưởng đã phác họa về một thời kỳ trong tương lai mà bốn nỗi khổ của đức Phật nêu ra sẽ có hai điều không còn nữa, đó là bệnh tật và già yếu. Nhưng mặc dầu khoa học hiện đại đã có rất nhiều những phát minh đột phá, người ta vẫn chưa bao giờ chạm tới ngưỡng cửa của sự chấm dứt hoàn toàn bệnh tật hoặc làm cho con người không còn chịu tiến trình lão hóa. Cứ mỗi khi tìm được phương pháp điều trị cho một căn bệnh nan y nào đó, thì dường như là ngay lập tức sẽ thấy xuất hiện một căn bệnh mới, còn bất trị hơn cả căn bệnh trước đó! Và như thế lúc nào con người cũng phải luôn đứng trước những thách thức không thể vượt qua của bệnh tật. Còn nói đếntiến trình già yếu thì càng không thấy có triển vọng gì tốt đẹp! May mắn lắm thì người ta cũng chỉ hy vọng tìm ra một phương thuốc nào đó làm cho con người có thể trẻ hóa được chừng năm mười năm tuổi cũng đã là phi thường lắm rồi, đừng nói chi đến việc “cải lão hoàn đồng”!

Nhưng cho dù có vượt qua được sự bệnh tật và già yếu, con người hầu như cũng không thể tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề mà con người vẫn xem là kẻ thù lớn nhất: Đó là sự chết! Ranh giới giữa sống và chết bao giờ cũng hết sức mong manh, và con người chưa hiểu biết được bao nhiêu về vấn đề này nên có thể nói là hoàn toàn bất lực trong việc tác động vào nó. Cho dù người ta có thể làm ra những cỗ máy khổng lồ đủ sức san bằng cả một hòn núi nhỏ, thì họ cũng không thấy có chút hy vọng gì có thể làm cho một con chuột nhắt bé tí đã chết có thể sống lại dù chỉ trong chốc lát!

Trong khi chờ đợi một cách vô vọng những tiến bộ của con người theo hướng này, và trong khi sự cải tạo thế giới trên một bình diện hợp lý hơn vẫn còn chưa đem đến cho nhân loại sức khỏe, sự anh ổn và hạnh phúc, thì chúng ta vẫn luôn phải đương đầu với muôn ngàn sự bấp bênh trong đời sống, những mối nguy cơ, tai họa và đau khổ luôn rập rình đe dọa sự hạnh phúc và bình an trong tâm hồn chúng ta! Những tai họa thiên nhiên như hỏa hoạn, bão lụt, dịch bệnh, động đất... kèm theo với những cuộc chiến tranh do chính con người gây ra luôn sẵn sàng cướp đi đời sống an ổn của bất cứ ai trong chúng ta. Đó chỉ là mới kể qua một vài sự tác động xấu từ bên ngoài, còn nói về những yếu tố bên trong, tức là phần nội tâm, thì con người lại luôn sẵn có vô số những sự yếu đuối, bất toàn, như lòng ích kỷ, ganh ghét, tham lam, thù hận, si mê .v..v... đều là những nguồn gốc sinh ra sự đau khổ cho chính bản thân mỗi người và cho những người chung quanh.

Trong những giây phút vui tươi ít ỏi của cuộc đời, khi chúng ta cảm thấy trong lòng vui vẻ hân hoan vì tiếng nhạc réo rắt du dương, hay khi nhìn thấy cảnh sắc muôn màu của lúc bình minh, chúng ta thường cảm thấy rằng trong vũ trụ tự nhiên hẳn luôn sẵn có sự an vui và ẩn giấu một ý nghĩa sâu xa thâm trầm nào đó, khác hơn là những nỗi khổ đau mà ta phải thường xuyên gánh chịu. Tuy nhiên, khi chúng ta quay trở về cõi đời thực tế với những sự va chạm phũ phàng, những thất vọng não nề cay đắng, thì chúng ta không khỏi nêu ra nhiều câu hỏi như là:

- Ý nghĩa và mục đích của cuộc đời này là gì?

- Ta là ai?

- Tại sao ta sinh ra ở đây?

- Rồi ta sẽ đi về đâu?

- Tại sao ta phải chịu đau khổ?

- Có những mối quan hệ gì giữa ta và những người khác quanh ta?

- Giữa con người với cái sức mạnh vô hình huyền bí trong cõi thiên nhiên bao phủ cuộc đời chúng ta có mối liên hệ như thế nào chăng?

Những câu hỏi căn bản đó, nhân loại đã từng nêu ra từ những thời đại quá khứ xa xăm. Nhưng ngày nào người ta vẫn chưa tìm ra được câu giải đáp thì tất cả những giải pháp tạm thời để làm dịu bớt sự đau khổ, dầu là những phương tiện vật chất hay tinh thần, đều chỉ có ý nghĩa vô cùng hạn chế và không thể giúp cho ta có được hạnh phúc thực sự. Ngày nào mà vấn đề đau khổ của nhân loại về cơ bản vẫn chưa được giải quyết, thì có thể nói là những nỗ lực của con vẫn chưa giải quyết được gì cả, vì tất cả mọi thành tựu vật chất hay tinh thần xét cho cùng cũng không có ý nghĩa gì khi mà người ta phải luôn oằn vai dưới gánh nặng khổ đau. Ngày nào mà trên thế gian còn có một sinh vật nhỏ mọn tầm thường nhất đang quằn quại trong đau khổ mà người ta chưa giải thích được nguyên nhân, thì xem như người ta chưa thực sự giải thích được điều gì cả, và quan niệm triết lý của nhân loại về cuộc đời vẫn còn là thiếu sót, bất toàn.

Từ những thời đại cổ xưa nhất, loài người đã từng nêu ra những câu hỏi trên. Và càng suy ngẫm thì họ càng cảm thấy rằng những sự tranh đấu vất vả và đau khổ của con người không hẳn là vô ích và vô nghĩa như người ta có thể lầm tưởng. Bởi vì, trong khi những ý nghĩa vật chất nhìn thấy được là hoàn toàn không có giá trị chân thật, thì sự đào luyện và tiến hóa về tinh thần nhờ trải qua những kinh nghiệm khổ đau vẫn luôn là một điều có thật. Từ đó, người ta cảm thấy nhất định phải một sự liên quan giữa con người với thế giới tâm linh hay phần tinh thần phi vật thể. Chính từ những cảm nhận mơ hồ đầu tiên này mà người ta bắt đầu tin vào sự hiện diện vô hình của những đấng thần minh trong những khu rừng thẳm hoặc trên đồi cao, nơi gốc đa đầu làng hoặc giữa đồng hoang vắng vẻ... Cũng từ đó, người ta tin rằng mỗi sinh vật, từ con người cho đến loài cầm thú, đều có một linh hồn, và rằng linh hồn đó tuy phải chịu những đau khổ cùng với thể xác, nhưng vẫn sẽ tồn tại sau khi chết trong một hình thức phi vật chất và tiếp tục có một đời sống riêng của nó. Mặc dù những niềm tin như thế hầu hết đều là vô căn cứ, nhưng nó lại thực sự xuất phát từ những cảm nhận rất thật của con người trong suốt quá trình chiêm nghiệm về đời sống. Vì thế, những niềm tin này hầu như đã đồng thời xuất hiện ở khắp nơi trên trái đất, bất chấp mọi sự khác biệt về chủng tộc, địa lý...

Khi sự suy nghiệm của con người về vấn đề này đã trải qua được những quãng thời gian rất dài thì những lý thuyết khác nhau dần dần được phát sinh. Hoặc có người cho rằng ngoài cõi trần gian đau khổ này mà loài người đang sống trong sự hỗn tạp pha lẫn cả điều lành và điều dữ, điều thiện và điều ác, hẳn phải còn có một cảnh giới vô hình nào đó để là nơi thưởng phạt công minh đối với những hành động thiện ác của con người ở thế gian. Và xuất phát từ niềm tin đó mà người ta đã tin rằng có những cảnh thiên đàng hay địa ngục. Tùy theo sự tưởng tượng, hình dung khác nhau ở từng nơi mà người ta dựng nên những đấng cầm cân nảy mực khác nhau, hoặc miêu tả những cảnh thiên đàng và địa ngục khác nhau, nhưng tựu trung vẫn giống nhau ở điểm là khuyến thiện trừ ác và sự công bằng tuyệt đối của sự phán xét vô hình đó.

Những điều tin tưởng và giải thích như trên đã từng được nêu ra rất nhiều. Có những cách giải thích hãy còn giản dị thô sơ, chất phác, nhưng cũng có những cách giải thích tinh tế, sâu sắc hơn, và cũng có những cách giải thích được mọi người cho là hợp lý, thuyết phục. Và chính nhờ sự tin tưởng vào những giải thích được chấp nhận đó mà con người vẫn có thể tiếp tục sống và đương đầu với những nỗi khó khăn, đau khổ giữa cuộc đời, vì sự thật là nếu không có những niềm tin đó thì cho dù con người có can đảm đến đâu cũng không thể nào vượt qua được những cơn khủng hoảng. Có người tin tưởng ở Đức Mahomet, có người tin tưởng ở Đức Phật, hoặc Chúa Jesus, hay Đức Krishna, hoặc một hình tượng tôn giáo nào khác nữa...

Có nhiều người tin rằng đời người có thể giải thích bằng một lý do duy nhất, đó là ý nghĩa của sự sống. Một số người khác không cần bận tâm tìm biết lý do gì cả, mà chỉ tận hưởng sự vui sướng, khoái lạc trong hiện tại. Đối với những người sinh trưởng trong nền giáo dục và tín ngưỡng đạo Gia Tô, thì sự giải thích về đời người và những sự đau khổ của cuộc đời thường là như thế này:

- Con người có một linh hồn và linh hồn vốn bất diệt; sự đau khổ là một thử thách đưa đến cho chúng ta, thiên đàng hay địa ngục là những điều thưởng phạt tùy theo cách hành động và cư xử của chúng ta trên thế gian.

Những người chấp nhận sự giải thích đó không hề nói rằng họ có đủ bằng chứng; vì đó chỉ là sự giải thích mà họ được hấp thụ từ cha mẹ và từ các giáo sĩ; và chính những vị này cũng đã hấp thụ từ những bậc phụ huynh và các giáo sĩ trong thế hệ của họ, rồi cứ như thế đi ngược dòng thời gian cho đến khi người ta tìm thấy nguyên ủy mọi sự nằm trong một quyển sách gọi là Kinh Thánh (Bible), và một người đã thiết lập, củng cố niềm tin ấy tên là Jesus.

Hầu hết mọi người đều đồng ý rằng bộ sách này thật là hay tuyệt, và Đức Jesus, cho dù là một con người hay thực sự là con của Chúa Trời, vẫn phải xem là một nhân vật phi thường. Tuy nhiên, kể từ thời kỳ Phục Hưng (Renaissance) cho đến nay, người Tây phương ngày càng trở nên hoài nghi đối với những tín điều dựa trên niềm tin không được xác tín, dẫu cho đó là tin vào một quyển sách hay một con người. Bất cứ tín điều nào không thể chứng minh được bằng các phương tiện khoa học đều gây ra một sự hoài nghi mỗi lúc một tăng thêm.

Nhà thiên văn học Ptolemy (Ptolémée)1 nói rằng mặt trời xoay quanh trái đất; và đó là điều mà Hội Thánh Gia Tô đã chấp nhận và truyền dạy. Tuy nhiên, nhà Thiên văn Copernic2 đã phát minh ra những khí cụ thiên văn học để chứng minh điều ngược lại, rằng chính trái đất xoay chung quanh mặt trời!

Triết gia Aristote nói rằng nếu người ta làm rơi cùng lúc hai vật có trọng lượng khác nhau từ trên cao, vật nặng hơn sẽ rơi xuống đất trước, và Hội Thánh đã hoàn toàn chấp nhận nền triết học cùng sự phát minh khoa học của Aristote. Tuy thế, với một cuộc thí nghiệm giản dị từ trên đài nghiêng ở thành phố Pise, Galileo3 đã chứng minh rằng hai vật có trọng lượng khác nhau vẫn có thể rơi xuống đất cùng lúc nếu chúng có thể tích khác biệt tương ứng.

Trong Kinh Thánh có nhiều đoạn cho rằng trái đất vốn là một mặt phẳng rộng; tuy nhiên Christophe Colomb Magellan cùng nhiều nhà thám hiểm khác nữa của thế kỷ XV đã làm đảo ngược giả thuyết trên đây bằng những chuyến du hành trên mặt biển, khởi hành từ một điểm và đi thẳng theo hướng đông nhưng cuối cùng lại đến được điểm khởi đầu, chứng tỏ rằng họ đã đi theo một đường tròn.

Những sự chứng minh trên đây cùng nhiều chứng minh khác nữa đã dần dần chứng tỏ rằng những giả thuyết dựa trên niềm tin vô căn cứ từ thời xưa không chắc gì là đúng. Do đó đã nảy sinh quan niệm khoa học và óc hoài nghi phán đoán của người thời nay.

Tuy nhiên, có một thực tế là trong sự tranh đấu để sống còn con người không thể tránh khỏi sự đau khổ. Sự đau khổ này, dường như người ta không tìm ra lý do nào để giải thích ngoài việc phải thừa nhận là nó không có mục đích gì cả! Lẽ nào người ta lại không thể có một cuộc sống không phải chịu đau khổ? Và những gì ta biết về sự chết cho đến nay vẫn chỉ là “một sự tan rã của những phân tử hóa học vật chất”, ngoài ra ta không còn biết gì hơn nữa.

Như vậy, với khuynh hướng khoa học, người ta đã thay thế niềm tin vào Kinh Thánh hay các vị giáo chủ bằng niềm tin vào năm giác quan và các thiết bị khoa học!

Với những ống kính hiển vi, viễn vọng kính, quang tuyến X, máy radar và những phát minh tối tân khác, khoa học đã nới rộng tầm hoạt động của năm giác quan đến mức vượt xa trước đây, nhưng người ta vẫn dựa vào sự nhận xét bằng năm giác quan, tức thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác và xúc giác như là nền tảng của mọi lý luận khoa học.

Tuy nhiên, trải qua vài chục năm gần đây, người ta đã trở nên phức tạp hơn và hoài nghi hơn đối với những điều họ hiểu biết hoặc tưởng rằng mình đã hiểu biết. Những khí cụ khoa học mà người ta phát minh ra đã chỉ cho họ thấy một cách mỉa mai rằng những giác quan của con người thật vô cùng thiếu sót, bất toàn và không thể giúp chúng ta hiểu biết vũ trụ một cách thật sự đầy đủ, chính xác. Những luồng sóng Hertz,4 chất phóng quang, nguyên tử lực... đó là chỉ mới kể có một vài hiện tượng khoa học của thời buổi hiện đại, đã chứng minh một cách rõ ràng rằng chung quanh chúng ta có những luồng âm ba rung động và những mãnh lực vô hình; và những phân tử nhỏ bé nhất của vật chất đều là những kho chứa đựng năng lực, hàm súc tiềm tàng một sức mạnh kinh khủng mà con người trước đây không thể tưởng tượng nổi.

Chúng ta biết rằng những giác quan như tai, mắt... mà chúng ta dùng để tiếp xúc với ngoại giới, cũng ví như những cửa sổ nhỏ hẹp của căn nhà bé nhỏ là xác thân của chúng ta. Sự nhạy cảm của con mắt chúng ta đối với ánh sáng giúp chúng ta tiếp nhận chỉ có một phần nhỏ những luồng âm ba rung động của ánh sáng. Sự thụ cảm của lỗ tai ta đối với âm thanh chỉ giúp ta tiếp nhận một biên độ vô cùng nhỏ hẹp trong biển âm thanh rộng lớn của vũ trụ. Nhiều loại thú cầm, chim muông, côn trùng, sâu bọ có những thị giác, thính giác và khứu giác khác hẳn loài người; bởi đó vũ trụ của chúng bao hàm nhiều sự vật mà chúng ta từ lâu không nhận biết hoặc không thể nhận xét rõ. Thật đáng ngạc nhiên khi con người vốn tự hào về trí thông minh đứng đầu trong muôn loài nhưng lại thua kém một số loài cầm thú, chim muông và sâu bọ về năng lực của giác quan để biết về vũ trụ bên ngoài. Hơn nữa, vì phải phụ thuộc vào những công cụ, phương tiện khoa học mà chính trí óc siêu việt thông minh của họ đã phát minh, nên con người không thể tự mình nhận biết và quan sát mọi sự vật trong vũ trụ mênh mông rộng lớn.

Hãy tưởng tượng rằng chúng ta có thể nới rộng tầm hoạt động và nhận biết của giác quan đến mức nhạy cảm hơn đối với ánh sáng và âm thanh, dẫu rằng chỉ hơn mức bình thường một phần nào thôi. Phải chăng khi ấy ta sẽ nhận biết được nhiều sự vật mà trước kia ta không hề nghe, không hề thấy?

Hoặc nếu có một người nào đó bẩm sinh đã có được những giác quan phi thường, với một tầm nhận biết rộng lớn hơn, phải chăng điều tất nhiên là người này sẽ có thể nghe thấy, nhận biết những sự vật mà chúng ta không thấy, không nghe? Với một mức độ khác biệt nào đó, phải chăng người ấy có thể nghe, thấy và nhận biết vượt qua cả những khoảng không gian xa xôi, tương tự như máy vô tuyến truyền thanh hoặc truyền hình?

Đứng trước thế giới mênh mông vô tận với biết bao điều còn bí ẩn mà những khí cụ khoa học tối tân của thế kỷ hai mươi đã hé mở cho chúng ta nhận biết phần nào, thì người ta buộc phải nhìn nhận khả năng xảy ra những điều nói trên. Và nếu nhìn ngược dòng lịch sử loài người, chúng ta sẽ thấy đã từng có nhiều trường hợp đặc biệt được ghi chép về những khả năng nhận biết phi thường của một số người. Một trong số những người đó là ông Swedenborg,5 nhà bác học trứ danh của thế kỷ 18. Ông này có được một năng lực nhận biết rất phi thường. Người ta đều biết rõ một chuyện về năng lực phi thường của ông, vì chuyện này được rất nhiều người chứng kiến, trong số đó có cả nhà triết học Emmanuel Kant.

Một buổi chiều vào khoảng sáu giờ, ông Swedenborg đang ngồi dùng cơm với vài người bạn ở thành phố Gothenburg, bỗng nhiên ông giật mình và nói rằng một cơn hỏa hoạn lớn đang xảy ra ở Stockholm là chỗ ông ở, cách đó độ năm trăm cây số. Sau đó một lát, ông tuyên bố rằng ngọn lửa đã thiêu hủy ngôi nhà của một người láng giềng và hăm dọa cháy lan đến ngôi nhà của ông. Đến tám giờ, cũng chiều hôm đó, ông cho biết, với một giọng nói đã trấn tĩnh, rằng ngọn lửa đã được dập tắt ở khoảng cách nhà ông độ vài ba gian nhà khác.

Hai ngày sau, những lời của ông Swedenborg đã được xác nhận bằng những bài tường thuật về cuộc hỏa hoạn bộc phát đúng vào lúc ông giật mình và có cảm giác đầu tiên về cơn tai biến này!

Đây không phải là trường hợp duy nhất, tiểu sử của nhiều nhân vật tên tuổi cũng ghi chép hàng trăm trường hợp tương tự, trong số đó có những người nổi tiếng như Mark Twain, Abraham Lincoln, St. Saens.v.v... Trong vài trường hợp, chính những người thân quyến của họ đã có lúc nhìn thấy thình lình những hình ảnh lạ lùng về những sự việc xảy ra ở cách rất xa, hoặc sẽ xảy ra trong nhiều tháng hay nhiều năm về sau, với đầy đủ chi tiết.

Nói về trường hợp ông Swedenborg thì năng khiếu thần nhãn của ông từ đó trở nên một thứ giác quan mạnh mẽ phi thường và liên tục. Nhưng trong phần nhiều những trường hợp khác, năng khiếu đó dường như chỉ biểu lộ trong một lúc nhất định khi đương sự tạm thời rơi vào một trạng thái xuất thần.

Người Tây phương thường có khuynh hướng đón nhận những sự việc kể trên với một thái độ hoài nghi và thậm chí với ít nhiều cử chỉ khinh thường. Tuy nhiên, nay đã đến lúc mà người ta không thể nhìn vào những hiện tượng đó một cách khinh rẻ như thế được nữa. Đối với những người có một tinh thần cởi mở, sẵn sàng tìm hiểu những hiện tượng lạ lùng, đối với những người thông hiểu các trào lưu khoa học và những nhu cầu của thế hệ, thì bất cứ sự việc gì có liên hệ đến những khả năng lạ lùng huyền bí của con người đều có tánh cách lý thú và có một tầm quan trọng nhất định.

Trong số những nhà thông thái có tầm kiến thức rộng rãi và thừa nhận rằng những hiện tượng thần bí, siêu nhiên đáng được nghiên cứu bằng phương pháp khoa học, cũng như đã ra công sưu tầm về những hiện tượng đó, có bác sĩ J. B. Rhine,6 giáo sư trường Đại Học Duke. Từ năm 1930, tiến sĩ Rhine và những người cộng sự đã nghiên cứu sâu về những hiện tượng thần giao cách cảm và năng khiếu thần nhãn trong con người.

Bằng những cuộc thí nghiệm được kiểm soát chặt chẽ và tuân theo một phương pháp khoa học đặc biệt, tiến sĩ Rhine đã khám phá được một điều là trong phòng thí nghiệm, có nhiều người đã biểu lộ những khả năng cảm xúc bằng giác quan một cách phi thường. Người ta có thể tìm thấy những chi tiết về phương pháp thí nghiệm và những kết quả sưu tầm của tiến sĩ Rhine trong quyển sách nhan đề “The Reach of the Mind”  (Tầm hoạt động của trí não” do chính ông xuất bản năm 1947 tại Hoa Kỳ.

Những nhà sưu tầm khác như Warcollier ở Pháp, Kotik ở Nga và Tichner ở Đức, với những phương pháp thí nghiệm tương tự, cũng đã đi đến những kết luận giống như của tiến sĩ J. B. Rhine.

Những bằng chứng khoa học hiển nhiên đã giải tỏa mọi điều nghi ngờ về tính chất có thật của những hiện tượng thần giao cách cảm và năng khiếu thần nhãn của con người. Tuy thế, cho đến nay khoa học chỉ mới chứng minh được rằng hiện tượng thần nhãn là một điều có thật, còn việc nó hoạt động ra sao và phát sinh từ những yếu tố nào thì người ta hoàn toàn không biết gì cả. Vì thế, người ta vẫn chưa thể vận dụng được năng khiếu đó trên địa hạt thực tế.

Thử tưởng tượng, nếu con người có thể tạo ra được cái năng khiếu phi thường đó, thì nó sẽ giúp ta nhìn thấy được những gì xảy ra trong không gian mà không cần sử dụng đến cặp mắt thường. Khi đó, con người sẽ có được một phương thức mới cực kỳ hiệu quả để thu hoạch những điều hiểu biết về vũ trụ.

Trải qua nhiều thế kỷ, con người đã làm được nhiều công trình lớn lao. Sự khôn ngoan khéo léo đã giúp ta chinh phục một phần nào không gian và tác động rất nhiều vào thế giới vật chất. Nhưng dù có được sự khôn ngoan khéo léo đó, xét cho cùng thì chúng ta vẫn là một sinh vật yếu đuối và bất toàn. Mặc dầu có được những thành công nhất định trên địa hạt vật chất, con người vẫn còn phải bất lực trên rất nhiều lãnh vực. Mặc dầu đã thu hoạch được những kết quả nhất định trên các lãnh vực nghệ thuật, văn hóa và khoa học, con người vẫn chưa tìm ra ý nghĩa và mục đích của sự đau khổ mà mỗi người đều phải chịu đựng từ khi sinh ra cho đến lúc từ giã cõi đời.

Trong thời gian qua, con người đã tìm ra những bí mật về năng lượng nguyên tử, điều đó là một bước đột phá trong việc kiểm soát thế giới vật chất. Nhưng có lẽ phải nhờ vào chính những sự khám phá gần đây về khả năng cảm xúc bằng giác quan siêu đẳng của con người và những mối liên quan lạ kỳ giữa ý thức và tiềm thức, con người mới có thể tiến sâu hơn nữa vào lãnh vực nội tâm của chính mình.

Sau nhiều thế kỷ dọ dẫm tìm tòi, có lẽ sau cùng người ta sẽ tìm ra những câu giải đáp thỏa đáng cho những điều bí ẩn quan trọng của đời người, chẳng hạn như những lý do vì sao con người sinh ra ở thế gian và mục đích cùng ý nghĩa của sự đau khổ mà con người phải chịu đựng là gì.

Đăng bởi trung23:28

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

Công dung của vỏ núc nác hay hoàng bá nam

Filled under:



HOÀNG BÁ NAM



Cây: Cây nhỡ, cao 5-13m. Thân nhẵn, ít phân cành, vỏ cây màu xám tro, mặt trong màu vàng. Lá xẻ 2-3 lần lông chim, dài tới 1,5m. Hoa màu nâu đỏ sẫm mọc thành chùm dài ở ngọn thân. Đài hình ống, cứng, dày, có 5 khía nông. Tràng hình chuông, phình rộng, có 5 thuỳ họp thành hai môi, 5 nhị, có chỉ nhị có lông ở gốc. Đĩa mật có 5 thuỳ rõ, cao 4-5mm, đường kính 12-14mm. Quả thõng, dài 40-120cm, rộng 5-10cm, các mảnh vỏ hoá gỗ. Hạt dài 4-9cm, rộng 3-4cm, kể cả cánh mỏng bao quanh. Hoa nở về đêm, thụ phấn nhờ dơi. Hoa và quả từng lúc quanh năm. Các quả chín vẫn ở trên cây khá lâu vào mùa khô khi cây rụng hết lá.

Tên thuốc: Hoàng bá nam.
Tên khác: Vỏ Núc nác, Nam hoàng bá.
Tên khoa học: Vị thuốc là vỏ thân đã phơi hay sấy khô của cây Núc nác (Oroxylon indicum Vent.), họ Chùm ớt (Bignoniaceae).
Mô tả dược liệu:
Dược liệu: Vỏ cuộn lại thành hình ống hay hình cung, dày 0,6 - 1,3 cm, dài ngắn không nhất định. Mặt ngoài màu vàng nâu nhạt, nhăn nheo, có nhiều đường vân dọc, ngang.  Mặt trong nhẵn, màu vàng xám hay vàng lục. Mặt bẻ ngang có lớp bần mỏng. Mô mềm vỏ lổn nhổn như có nhiều sạn, trong cùng có lớp sợi dễ tách theo chiều dọc.
Bộ phận dùng: Vị thuốc là vỏ thân đã phơi hay sấy khô của cây Núc nác (Oroxylon indicum Vent.)
Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi khắp nước ta.
Thu hái: Thu hái quả nang chín màu nâu vào mùa thu và đông, phơi khô ngoài nắng cho vỏ nứt hạt, tách lấy hạt và phơi tiếp cho đến khô. Vỏ cây thu hái quanh năm; khi cần thiết, đẽo vỏ trên cây, thái phiến dài 2 - 5 cm,  phơi hay sấy khô.
Tác dụng dược lý: Có tác dụng chống viêm, chống dị ứng rõ rệt. Tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một số tác nhân bất lợi từ bên ngoài vào cơ thể. Làm giảm độ thấm của mạch máu.
Thành phần hoá học: Vỏ và hạt chứa một hỗn hợp flavonoid và chất đắng kết tinh là oroxylin. Vỏ chứa baicalein và chrysin. Hạt cũng chứa oroxylin và một chất dầu chứa 80,40% acid oleic, acid palmitic, acid stearic và acid lignoceric.
Công năng: Hạt có tác dụng thanh phế nhiệt, lợi hầu họng, chống ho, giảm đau, vỏ thân có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp. Các flavonoid trong vỏ cây và hạt có tác dụng đối với bệnh mày đay và mẩn ngứa và còn có tính kháng trùng.
Công dụng:
+ Lá hoa và quả khi còn non đều ăn được sau khi đun nấu. Người ta thường lùi quả non vào trong tro than rồi đem bóc bỏ vỏ ngoài, lấy phần trong của quả xào ăn. Hạt, vỏ thân thường được dùng làm thuốc.
+ Hạt dùng trị: 1. Viêm họng cấp và mạn tính, khan cổ; 2. Viêm phế quản cấp và ho gà; 3. Đau vùng thượng vị, đau sườn.
+ Vỏ thân được dùng trị: viêm gan vàng da, viêm bàng quang, viêm họng, khô họng, ho khan tiếng, đau dạ dày, dị ứng trẻ em ban trái, sởi. Cũng dùng chữa dị ứng sơn, trị bệnh vẩy nến, hen phế quản trẻ em. Trong dân gian dùng thay Hoàng bá.
Cách dùng, liều lượng: Ngày 8 - 16g, dạng thuốc sắc, hoàn tán.
1,5-3g hạt, 8-16g vỏ thân, dạng thuốc sắc. Có thể nấu thành cao hay chế dạng bột. Dùng ngoài nấu nước rửa hoặc dùng cao bôi.
Ở nước ta Viện Dược liệu đã sản xuất nunaxin viên 0,25g từ hỗn hợp các flavonoid để chữa mày đay và mẩn ngứa, dùng vỏ Núc nác làm viên Habanin kháng trùng và một loại viên kết hợp 2 dạng thuốc trên.
Bào chế:
Loại bỏ tạp chất, cạo bỏ lớp bần, rửa sạch, thái phiến chiều dài 2- 5 cm, bề dày 1-3 mm, phơi khô, hoặc sao nhỏ lửa cho đến khi bề mặt dược liệu có màu vàng.
Bài thuốc:
1. Ngoài da lở ngứa, bệnh tổ đĩa ngứa giữa lòng bàn tay, bệnh giang mai lở loét: Vỏ Núc nác, Khúc khắc, mỗi vị 30g, sắc uống hàng ngày.
2. Chữa đau dạ dày: Dùng vỏ núc nác, sấy khô tán thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 2-3g (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).
3. Chữa kiết lỵ, đau dạ dày ợ hơi, ợ chua: Dùng hạt núc nác phơi khô, tán thành bột mịn, hoặc sắc uống mỗi ngày 8-10g (Trồng hái và dùng cây thuốc).
4. Chữa viêm phế quản, ho lâu ngày: Mộc hồ điệp 10g, đường phèn hay kẹo mạch nha 30g, nước 300ml sắc còn 200ml. Chia 3 lần uống trong ngày (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).
5.  Viêm đường tiết niệu, đái buốt ra máu: Vỏ núc nác, rễ Cỏ tranh, Mã đề mỗi thứ một nắm, sắc nước uống.
6. Ho lâu ngày: 5-10g hạt, sắc nước hoặc tán bột uống.
7. Lở do dị ứng sơn: Vỏ Núc nác nấu cao, dùng uống và bôi vào chỗ lở.
8. Chữa viêm khí quản cấp tính, ho gà: Dùng mộc hồ điệp 4g, an nam tử 12g, cát cánh 6g, cam thảo 4g, tang bạch bì (vỏ trắng rễ cây dâu tằm) 12g, khoản đông hoa 12g. Sắc lấy nước, thêm 60g đường phèn vào hòa tan, chia uống nhiều lần trong ngày (Hiện đại thực dụng trung dược). "An nam tử" là tên dùng trong đơn thuốc của vị "bạng đại hải", tức là hạt "lười ươi" (Sterculia lychnophora Hance.), có mọc ở Biên Hòa, Bà Rịa, Bình Ðịnh, Bình Thuận, Phú Yên, Quảng Trị...
9. Chữa sỏi thận, sỏi bàng quang: Dùng vỏ núc nác 16g, chi tử (quả dành dành) 20g, mã đề thảo (lá và bông mã đề) 20g, xương bồ 8g, mộc thông 12g, tỳ giải 30g, quế chi 4g, cam thảo đất 20g; Sắc nước, chia 2 lần uống trong ngày vào lúc đói bụng (Thuốc Nam và Châm cứu).
Kiêng kỵ: Người hư hàn gây đau bụng, đầy bụng tiêu chảy không dùng.
Ghi chú: Hạt Núc nác cũng là vị thuốc, có tên là Mộc hồ điệp, có tác dụng chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, đau dạ dày.

Đăng bởi trung00:13